HO SO TOI AC CONG SAN VIET NAM

Thursday, April 20, 2006

THẬP DIỆN MAI PHỤC

THẬP DIỆN MAI PHỤC

MẶT TRẬN LUẬT PHÁP TÒA ÁN

trong 10 mặt đấu tranh giải thể va diet tru giặc con do Cộng Sản

LS. Nguyễn Hữu Thống



Từ đau thương và chết chóc, chúng ta đứng lên đấu tranh với niềm hy vọng và tin tưởng rằng rồi đây Đất Nước sẽ nở hoa, Quê Hương sẽ thanh bình và Dân Tộc sẽ an lạc.

Ngày nay vấn đề sinh tử của đồng bào trong nước là làm sao giải thể được chế độ Cộng Sản và xây dựng được chế độ Dân Chủ. Mọi người đồng ý rằng muốn đưa Cách Mạng Dân Chủ đến thành công phải có sự đấu tranh kiên cường của đồng bào trong nước và sự yểm trợ tích cực của đồng bào hải ngoại.

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc và chuyên chế, chưa thấy một quốc gia nào lại có cơ may như Việt Nam ngày nay. Đó là sự hậu thuẫn của khối đông đảo người Việt hải ngoại, hai triệu người như một, đồng lòng hướng về quê hương, mong cho dân tộc và đất nước tiến lên.

Chưa nói về sức mạnh tài chánh, đủ khả năng tiếp viện mỗi năm dăm ba tỷ mỹ kim cho quốc nội khi đất nước có tự do. Chưa nói về sức mạnh phát triển, với hàng trăm ngàn chuyên viên kỹ thuật gia thượng thặng, đủ mọi ngành, mọi nghề, sẵn sàng trở về kiến thiết quốc gia khi đất nước có dân chủ.
Chỉ nói về mặt nhân tâm, với hàng triệu tấm lòng, ngày đêm hướng về quê hương yêu dấu, mong cho đồng bào được hạnh phúc, cho dân tộc được tự do thì đó cũng là một sức mạnh tinh thần vô giá. Một khi được vận dụng, sức mạnh này sẽ tạo thành động lực để thúc đẩy cuộc vận động lịch sử của người Việt trong nước đứng lên đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Ngày nay bằng tham nhũng và lạm quyền, với một chính sách kinh tế lạc hậu, phe lãnh đạo Cộng Sản đã đưa dân tộc đến lầm than đói khổ, lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam chưa được một mỹ kim một ngày. Trong khi đó tại Phi Luật Tân là 3 mỹ kim, tại Thái Lan là 6 mỹ kim, tại Mã Lai là 10 mỹ kim, tại Đại Hàn là 25 mỹ kim, tại Đài Loan là 40 mỹ kim và tại Tân Gia Ba là 85 mỹ kim. Đặc biệt là tại Congo, một cựu thuộc địa của Pháp tại Phi Châu, lợi tức bình quân mỗi đầu người cũng gấp đôi Việt Nam. Theo Bách Khoa Toàn Thư Britannica năm 2001, lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam là $350 mỹ kim một năm, so với $680 mỹ kim tại Congo.
Hơn nữa vì không có sự kiểm soát và chế tài, phe lãnh đạo CS đã sang đoạt tất cả tài sản quốc gia để làm giàu bất chính và đã trở thành những triệu phú và tỉ phú.
Trong khi đó người dân vô sản vẫn hoàn là vô sản và không có một đồng xu dính túi. Do sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng, lợi tức thực sự của người dân trung bình tại nông thôn chỉ được 1/2 mỹ kim hay 1/4 mỹ kim một ngày. Ngày nay tại nhiều địa phương, người nông dân Miền Bắc phải lao động 4 ngày mới được 1 mỹ kim, nghĩa là mỗi ngày chỉ được 25

xu hay 1 quarter.

Chúng ta hãy lấy đồng quarter ra ngắm nhìn để thông cảm với thân phận của đồng bào trong nước. Trong đồng quarter có ghi chữ liberty, nghĩa là tự do, giải phóng. Và chúng ta hãy tự nhủ rằng chúng ta sẽ góp phần vào việc giải phóng đồng bào khỏi sự nghèo đói túng thiếu, khỏi sự thất học ngu dốt, khỏi sự sợ hãi đàn áp, khỏi nạn chuyên chế, khỏi nạn CS.

Cách đây 70 năm, Phạm Quỳnh đã cảnh giác chúng ta về nạn “dịch hạch CS”. Ngày nay, với kinh nghiệm bản thân, chúng ta biết rằng CS còn nguy hại hơn dịch hạch. Cộng Sản là bệnh ung thư. Mà ung thư thì không thể trị liệu được. Ung thư chỉ có thể cắt bỏ đi. CS cũng vậy. Chế độ CS không thể sửa chữa được. Nó phải bị giải thể!

I. CỘNG SẢN ĐÃ GIẢI THỂ RỒI.

Tuy nhiên một số người lại nhận định rằng, ngày nay chế độ CS đã giải thể rồi, và đảng CS chỉ còn là một đảng Mafia, hay băng đảng. Do đó chúng ta chỉ cần chống tham nhũng chứ không cần đấu tranh giải thể CS nữa. Nhận định như vậy là chủ quan và không hiểu rõ bản chất CS.

Trên thực tế, bằng tham nhũng và lạm quyền, phe lãnh đạo CS đã tập trung và sang đoạt tất cả các tài sản quốc gia để thủ lợi riêng và làm giàu bất chánh. Theo các tài liệu đáng tin cậy, thì hiện nay có trên 30 cán bộ CS cao cấp đã tích lũy những tài sản khổng lồ hàng chục triệu và hàng trăm triệu mỹ kim.

Vì không có sự kiểm soát và chế tài của quốc dân, của đối lập, của báo chí, của tòa án và quốc hội, những kẻ tham nhũng bất lương này đã không bị truy tố, không bị kết án và không bị tịch thu tài sản. Đồng bào vô cùng phẫn uất về sự bao che này. Họ công khai miệt thị phe lãnh đạo CS, và đã tố cáo đích danh “con thằng Kiệt, con thằng Khải, cháu thằng Đỗ Mười” v...v... Mới đây cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, với đồng lương chết đói, đã dám tặng dữ một lần một triệu mỹ kim. Hành vi này cho biết ông ta đã tích lũy được hàng chục triệu mỹ kim.

Đầu năm ngoái khi có bằng chứng cho biết phe lãnh đạo CS đã phản bội tổ quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc, một số sĩ phu và bô lão tại Hà Nội đã trình Thất Trảm Sớ, đòi trảm quyết 7 kẻ quyền thần: Mười, Anh. Kiệt, Phiêu, Lương, Khải, Mạnh. Điều đáng lưu ý là trong khi Mafia chỉ là một đảng cướp thường thì Đảng CS ngày này là một đảng cướp đã cướp được chính quyền.

Cũng vì vậy, họ có chính phủ tay sai để thực thi đường lối chính sách của Đảng, và đã sử dụng ngân sách quốc gia vào việc nuôi dưỡng các cán bộ đảng viên. Họ còn có quốc hội bù nhìn để hợp thức hóa những nghị quyết của Đảng, và đã ghi Điều 4 Hiến Pháp giành độc quyền lãnh đạo cho Đảng CS
. Họ còn có tòa án công cụ để một mặt bao che những hành vi tham nhũng của những kẻ bất lương phạm pháp, mặt khác lại bắt giam độc đoán những phần tử lương thiện đã dám đứng lên tố cáo bạo quyền, đòi tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền.

Hơn nữa, sau khi cướp được chính quyền, Đảng CS đã thiết lập một chế độ độc tài toàn trị.

Do đó, ngày nào Đảng CS còn giữ độc quyền lãnh đạo, vi phạm quyền dân tộc tự quyết, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cư,û thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nào họ còn giữ độc quyền tư tưởng để phổ biến tại các trường công lập chủ thuyết Mác-Lê phản dân tộc và phản nhân loại, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nào họ còn chủ trương
tiêu diệt tôn giáo trong chủ thuyết và đàn áp tôn giáo trong chính sách, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nào họ còn
giữ độc quyền thông tin, độc quyền báo chí và không cho tư nhân ra báo, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.

Và ngày nào họ còn
vi phạm quyền tự do hội họp, tự do lập hội và tự do lập đảng, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.

Ngày nay Đảng CS là một con rắn hai đầu, đầu kinh tế Mafia với
tham nhũng bóc lột, và đầu chính trị độc tài với đàn áp khủng bố. Nạn nhân trực tiếp của chế độ lại là những người đã tích cực góp phần xây dựng chế độ, như các cựu chiến binh, thương phế binh, gia đình liệt sĩ v...v...

Do đó muốn cho dân tộc và đất nước tiến lên, chúng ta phải kết hợp đấu tranh giải thể CS, bằng cách chém đứt 2 đầu con rắn.

II. CỘNG SẢN KHÔNG THỂ GIẢI THỂ ĐƯỢC.

Bên cạnh dư luận cho rằng CS đã tự giải thể và Đảng CS đã biến thành một đảng Mafia hay băng đảng, còn có quan niệm cho rằng CS không thể nào giải thể được.

Đây là một quan niệm bi quan và phản biện chứng. Vì chỉ trên bình diện tôn giáo đạo lý, những nguyên lý chủ thuyết mới có giá trị tuyệt đối là những chân lý vĩnh cửu, như đức từ bi của Nhà Phật, đức bác ái của Chúa Kitô, hay đức nhân nghĩa của Khổng Phu Tử. Trên bình diện dân sinh xã hội, các nguyên lý chủ thuyết chỉ có giá trị tương đối theo thời gian và không gian. Về mặt kinh tế chính trị, các chế độ được thiết lập để quy định những tương quan giữa người dân và quốc gia.

Do đó nó phải thay đổi theo trình độ ý thức của người dân, điều kiện kinh tế chính trị của quốc gia và trào lưu tiến hóa của lịch sử.

Trong lịch sử nhân loại cổ kim, những chế độ tàn bạo nhất như của Kiệt Trụ, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông v...v... đã lần lượt tiêu vong với thời gian.

Cũng vì vậy tại Âu Châu, chỉ trong vòng hai năm (từ 1989 đến 1991),
22 quốc gia đã lần lượt giải thể CS: 7 nước thuộc Bức Màn Sắt Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Albanie,

Bulgarie, Roumanie, và
15 nước thuộc Liên Bang Sô Viết.

Hậu quả dây chuyền của sự giải thể CS Âu Châu là sự tiêu vong của một số chế
độ CS Á Phi như tại Angola, Mozambique, Ethiopie, A Phú Hãn, Mông Cổ, Cao Miên v...v...

Dầu sao chúng ta ý thức rằng tại Việt Nam giải thể Cộng Sản và xây dựng dân chủ là cuộc đấu tranh trường kỳ và cam go.
Trong cuộc chiến đấu này chúng ta phải tìm hiểu những nhược điểm của đối phương để

khai thác, và những võ khí của đối phương để hóa giải.

Những nhược điểm của CS là: độc tài, tham nhũng, bất công, bất lực, thường xuyên vi phạm nhân quyền và trắng trợn vi phạm nhân quyền.

Hai võ khí chiến lược của CS là: tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố.

III. HAI VÕ KHÍ CHIẾN LƯỢC CỦA CỘNG SẢN

Tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố là hai võ khí chiến lược của CS để cướp chính quyền và củng cố chính quyền. Đây là một cặp song cổ kiếm phải sử dụng đồng thời, mất một là mất tất cả. Nếu chỉ có tuyên truyền đối trá, mà không có đàn áp khủng bố, thì CS sẽ tiêu vong. Trái lại nếu chỉ có đàn áp khủng bố, mà không thể tuyên truyền dối trá được nữa, thì CS cũng sẽ bị giải thể.

Lịch sử đã chứng minh điều đó. Tại Đông Đức và Lỗ Ma Ni năm 1989, bộ máy công an kìm kẹp cũng rất hung dữ. Nó có sự dã man của mật vụ Gestapo thời Hitler, và sự tàn ác của mật vụ KGB thời Stalin. Vậy mà khi người dân đã
biết rõ mặt thật của CS và đã đứng lên đòi Dân Tộc Tự Quyết, thì võ khí đàn áp không còn hiệu nghiệm nữa.

Tại Liên Xô cũng vậy. Để chống lại âm mưu đảo chánh ngày

19-8-1991 của phe CS cực đoan, nhân dân đã đứng lên đòi giải thể CS.
Quân đội xuất phát từ nhân dân, đã đứng về phía dân. Và công an mật vụ phải bó tay, không dám bắn vào đoàn người biểu tình.

Trong kỷ nguyên thông tin
, tuyên truyền dối trá đã mất hiệu nghiệm. Và ngày nay, đàn áp khủng bố là võ khí chiến lược của Cộng Sản để củng cố chính quyền.

5 bậc thang đàn áp khủng bố là: thủ tiêu cá nhân, tàn sát tập thể, học tập cải tạo, luật pháp tòa án và quản chế hành chánh.

1) Thủ tiêu cá nhân.

Mặc dầu không ngừng kêu gọi đoàn kết quốc gia, Đảng CS đã thủ tiêu những người quốc gia yêu nước có uy tín và hậu thuẫn vì họ là những đối thủ nguy hiểm của CS trên đường cướp chính quyền. Sau khi cướp được chính quyền năm 1945, Cộng Sản đã thủ tiêu:
Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần văn Thạch, v...v... (trong nhóm Tân Tả Phái); Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà v...v... (trong các nhóm Lập Hiến); Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo); Trương Tử Anh (Đại Việt), Lý Đông Á (Duy Dân); Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Đảng) v...v...

2) Tàn sát tập thể.


Đồng thời với thủ tiêu cá nhân, Đảng CS còn tàn sát tập thể.

Tàn sát tập thể vì lý do tôn giáo, như việc sát hại các tín đồ Cao Đài và Hòa Hảo trong Chiến Tranh Đông Dương; tàn sát tập thể vì lý do đảng phái như việc sát hại các cán binh Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội, Đại Việt, Duy Dân v...v... từ thập niên 1940; tàn sát tập thể vì lý do giai cấp, như việc sát hại 200 ngàn nông dân tiểu tư sản được đôn lên hàng địa chủ trong 5 đợt đấu tố cải cách ruộng đất trong thập niên 1950; tàn sát tập thể vì lý do chính kiến, như việc sát hại 4 ngàn người quốc gia tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Vụ tàn sát tập thể Tết Mậu Thân của Đảng CS Việt Nam năm 1968 đã mở đường cho vụ tàn sát tập thể 2 triệu người Cam Bốt của Đảng CS Khmer từ 1975.

3) Học tập cải tạo.

Võ khí đàn áp khủng bố thứ ba là học tập cải tạo. Mặc dầu không ngừng hô hào hòa giải và hòa hợp dân tộc, từ 1975 Đảng CS đã bắt giam hằng trăm ngàn trí thức văn nghệ sĩ và quân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa tại các trại tập trung, người thì 5, 7 năm, người thì 15, 17 năm. Đây là những trại lao động khổ sai hay lao động cưỡng bách để đọa đày thân xác và hủy diệt ý chí của tù cải tạo.

4) Luật pháp tòa án.

Võ khí đàn áp khủng bố thứ tư là luật pháp tòa án. Thay vì để ban phát công lý cho người dân, và bảo vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản, tòa án và luật pháp đã được sử dụng như những công cụ đàn áp khủng bố để bắt giam độc đoán những người đấu tranh ôn hòa cho tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền. Từ sau 1975 họ đã truy tố:

a) Về tội phản nghịch hay âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, và đã kết án Luật Sư Nguyễn Khắc Chính tù chung thân năm 1976, các Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu 20 năm tù năm 1988, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế 20 năm tù năm 1991, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt 15 năm tù năm 1993, và Giáo Sư Nguyễn Đình Huy 15 năm tù năm 1995.

b) Về tội tuyên truyền chống chế độ, và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền 12 năm tù, 5 năm tù và 3 năm tù năm 1988. Ngoài ra họ còn tuyên phạt Luật Sư Đoàn Thanh Liêm 12 năm tù năm 1992. Năm 1996 Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu và Nguyễn Kiến Giang đã bị kết án 2 năm tù, 1 năm tù và 15 tháng tù treo về tội tiết lộ bí mật Nhà Nước, thay vì tội tuyên truyền chống chế độ, dầu rằng họ đã phủ định chế độ và tuyên bố chia tay ý thức hệ Cộng Sản.

c) Về tội phá hoại chính sách đoàn kết giữa tôn giáo và chính quyền, và đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý 13 năm tù năm 2001 (cộng thêm 2 năm tù về tội vi phạm quyết định quản chế hành chánh). Năm 1995 Hòa Thượng Thích Quảng Độ cũng bị kết án 5 năm tù về tội này, chỉ vì Ngài đã tổ chức cứu trợ các nạn nhân lũ lụt tại đồng bằng sông Cửu Long nhân danh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Cũng trong năm này Hoàng Minh Chính đã bị kết án 1 năm tù về tội phá hoại chính sách đoàn kết giữa nhân dân và chính quyền.

5) Quản chế hành chánh

Võ khí đàn áp khủng bố thứ năm là quản chế hành chánh. Từ sau vụ án Lê Hồng Hà (1996), trong 5 năm (đến 2001) không thấy có vụ án chính trị nào. Vì từ 1997 Đảng Cộng Sản đã ban hành quy chế quản chế hành chánh để bắt giữ phòng ngừa, quản thúc tại gia những người đối kháng, cấm họ không được hành nghề, không được di chuyển, không được tiếp xúc với quần chúng, không được trả lời phỏng vấn và không được tham gia chính quyền. Bằng chính sách này Đảng Cộng Sản đã biến đất nước thành một nhà tù lớn, trong đó nhà nước không phải nuôi ăn các tù nhân.

Sau vụ Đại Khủng Bố ngày 11- 9-2001, khi Hoa Kỳ và đồng minh còn đang bối rối, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lợi dụng thời cơ, leo thang khủng bố, từ bậc 5 (quản chế hành chánh) lên bậc 4 (luật pháp tòa án). Qua tháng sau, tháng 10 năm 2001, họ đã truy tố và kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý 15 năm tù chỉ vì Ngài đã tố cáo Đảng Cộng Sản vi phạm tự do tôn giáo.

Qua năm 2002, khi Hoa Kỳ và đồng minh vẫn còn bối rối về chiến tranh chống khủng bố, chiến tranh Iraq, một lần nữa, Đảng Cộng Sản lại lợi dụng thời cơ để bắt giam những nhà trí thức trẻ trong nhóm Dân Chủ như Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình v...v... Thời gian này phong trào đối kháng bộc phát mạnh mẽ do những hành vi phản quốc của phe lãnh đạo Cộng Sản trong việc lén lút ký kết các hiệp ước nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc. Tháng 11-2002, bất chấp dư luận quốc tế và quốc nội, họ đã kết án Lê Chí Quang 4 năm tù về tội tuyên truyền chống nhà nước chỉ vì anh đã lên tiếng tố cáo chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

Qua tháng sau, tháng 12-2002, họ lại tuyên phạt Nguyễn khắc Toàn 12 năm tù về tội gián điệp. Tháng 6-2003, họ lại tuyên phạt Phạm Hồng Sơn 13 năm tù cũng về tội gián điệp. Sau này, dưới áp lực quốc tế, họ đã giảm hình phạt xuống 5 năm tù, nhưng vẫn giữ nguyên tội danh gián điệp.

Tháng 9 vừa qua, họ đã cải tội danh gián điệp thành tội lợi dụng quyền tự do dân chủ, và đã kết án Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường, và Nguyễn Thị Hoa 5 năm, 4 năm và 3 năm tù. Tháng 11 vừa qua, dưới áp lực quốc tế, họ đã giảm hình phạt xuống 2 năm 8 tháng tù cho Nguyễn Vũ Việt và Nguyễn Trực Cường, và 4 tháng 8 ngày tù cho Nguyễn Thị Hoa. Trong tháng đó, họ đã kết án Trần Dũng Tiến 10 tháng tù cũng về tội này.

Tháng 12 vừa qua họ lại kết án Nguyễn Vũ Bình 7 năm tù về tội gián điệp. Kinh nghiệm cho biết trong giai đoạn cao trào, Đảng Cộng Sản đã sử dụng võ khí chiến lược số 1 của họ là tuyên truyền dối trá và giả nhân giả nghĩa, với các mục tiêu độc lập, thống nhất, tự do, hạnh phúc, công bằng xã hội, người cày có ruộng, đoàn kết quốc gia, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Tuy nhiên khi họ sử dụng võ khí chiến lược số 2 là đàn áp khủng bố với thủ tiêu tàn sát, giam giữ độc đoán, quản thúc tại gia, kết án oan uổng những công dân lương thiện có lòng với đất nước, thì đó là lúc họ bước vào giai đoạn thoái trào.

IV. MẶT TRẬN LUẬT PHÁP TÒA ÁN

Ngày nay, với trình độ ý thức của quần chúng, với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia, với trào lưu tiến hóa của nhân loại, đặc biệt với sự thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế, Đảng Cộng Sản Việt Nam không còn dám sử dụng 3 võ khí đàn áp khủng bố cực đoan là thủ tiêu cá nhân, tàn sát tập thể và học tập cải tạo. Vì đó là những tội chống nhân loại bị trừng phạt bởi Tòa Án Hình Sự Quốc Tế. Và ngày nay luật pháp tòa án là võ khí chiến lược của Cộng Sản để đàn áp đối lập và củng cố chính quyền.

Tuy nhiên Luật Pháp Tòa Án lại chính là khâu yếu nhất của Nhà Nước Cộng Sản. Vì luật pháp Cộng Sản là luật rừng xanh (jungle law), và tòa án Cộng Sản là tòa án của loài đại thử (kangaroo court). Người Cộng Sản không nói cùng một ngôn ngữ pháp lý như chúng ta, họ không thừa nhận có các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị. Do đó nhiều người cho rằng nói chuyện luật pháp với Cộng Sản thì thà nói với đầu gối còn hơn! Chúng ta không thể chia sẻ quan điểm này.

Nói chuyện với đầu gối chỉ là một thái độ triết học. Về mặt đấu tranh chính trị chúng ta phải nỗ lực đấu lý đấu pháp để giành ưu thắng trên mặt trận luật pháp tòa án. Có ưu thắng trên mặt trận này chúng ta sẽ làm hưng khởi các mặt trận khác trong 10 mặt đấu tranh giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ. Đó là SÁCH LƯỢC THẬP DIỆN MAI PHỤC.

Sở dĩ chúng ta có ưu thắng vì chúng ta có chính nghĩa, tự do dân chủ, có hậu thuẫn quần chúng và hậu thuẫn quốc tế. Ngày nay nhân loại văn minh không quen biết về 4 võ khí đàn áp khủng bố của Cộng Sản
là thủ tiêu cá nhân, tàn sát tập thể, học tập cải tạo và quản chế hành chánh. Họ chỉ quen thuộc với luật pháp tòa án. Và trong phạm vi này họ có những qui luật tổ chức, những truyền thống sinh hoạt và những mục tiêu tôn chỉ.

Đối với nhân loại văn minh, ban hành luật pháp để làm gì, nếu không phải để bảo vệ sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản cho người dân? Thiết lập tòa án để làm gì, nếu không phải để thực thi công bằng và ban phát công lý cho tất cả mọi người?
Tại Việt Nam ngày nay, luật pháp tòa án đã sa đọa thành một công cụ đàn áp khủng bố để bắt giam độc đoán những công dân lương thiện có lòng với đất nước và có dũng cảm đứng lên phản kháng bạo quyền đòi tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền.

Do đó mỗi khi có những vụ bắt giam độc đoán các tù nhân lương tâm, cộng đồng nhân loại đã lên tiếng và can thiệp.

Khi nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 1986, nhà văn Elie Wiesel đã cam kết như sau:

“Tôi thề sẽ không bao giờ im tiếng nếu ở đâu và khi nào con người còn bị đau khổ và đày đọa. Chúng ta phải nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ đàn áp. Im lặng là khuyến khích kẻ áp bức. Do đó chúng ta phải can thiệp. Khi đời sống con người bị đe dọa, phẩm giá con người bị chà đạp, các biên thùy quốc gia không còn quan trọng nữa. Nơi nào con người bị hành hạ vì lý do tôn giáo, chính trị hay chủng tộc, nơi đó lập tức trở thành trung tâm của vũ trụ. Những nạn nhân này chỉ đòi hỏi một điều, là họ biết rằng họ không bị cô đơn, không bị quên lãng. Và khi họ không còn quyền được nói nữa, chúng ta sẽ nói thay cho họ...”

Câu mở đầu trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nêu lên 5 mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là Nhân Phẩm, Bình Đẳng, Tự Do, Công Lý và Hòa Bình:

“Việc thừa nhận nhân phẩm bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả những phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình thế giới.”

Trong 5 mục tiêu này, 4 mục tiêu đầu tiên được coi là tôn chỉ của Luật Pháp và Tòa Án:

  • 1) Tôn trọng nhân phẩm của bị can trong giai đoạn điều tra sơ vấn tại công an cũng như trong giai đoạn thụ hình sau khi có án tòa.
  • 2) Tôn trọng quyền bình đẳng trước pháp luật của bị can.
  • 3) Tôn trọng quyền tự do thân thể và an ninh thân thể của người dân.
  • 4) Thực thi công bằng và ban phát công lý cho tất cả mọi người

Muốn cầm cân công lý, tòa án phải độc lập, không lệ thuộc vào đảng hay chính phủ. Phải thượng tôn luật pháp, tôn trọng các mục tiêu tôn chỉ và các truyền thống sinh hoạt của tòa án.

Luật pháp phải quy định minh bạch những yếu tố cấu thành tội trạng, không quá bao quát và không mơ hồ. Đặc biệt không được vi phạm hiến pháp quốc gia hay công ước quốc tế.

Thẩm phán phải xét xử theo lương tâm và pháp luật. Phải giải thích hình luật chặt chẽ, và không xuyên tạc. Phải tôn trọng những quyền biện hộ của bị can, như quyền được suy đoán là vô tội. Chiếu nguyên tắc “sự nghi vấn có lợi cho bị can” tòa án phải theo phương châm: “ Thà tha lầm 10 người còn hơn phạt oan một bị cáo.”

Tháng sáu vừa qua, tòa án đã phạt Phạm Hồng Sơn 13 năm tù về tội gián điệp, chỉ vì anh đã phổ biến trên internet cuốn sách “Thế nào là Dân Chủ ?”, dịch từ một tài liệu trên mạng lưới thông tin của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Đấy là một sỉ nhục cho quốc gia và một xúc phạm đến lương tri nhân loại.

Lẽ tất nhiên cộng đồng nhân loại đã lên tiếng và can thiệp. Phản ứng quốc tế vô cùng mạnh mẽ, không kém sự phản kháng vụ đàn áp nhà lãnh đạo dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi. Các chính phủ như Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi, các quốc hội kể cả Quốc Hội Âu Châu, và các hiệp hội nhân quyền trên thế giới như Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Quan Sát Nhân Quyền Á Châu, Hội Ký Giả Không Biên Giới, Hội Bảo Vệ Ký Giả v...v... đã đồng thanh lên án nhà cầm quyền Hà Nội trong việc dùng luật pháp tòa án để đàn áp đối lập.

Bộ mặt nhà nước pháp quyền giả hiệu của Cộng Sản đã bị lột mặt nạ. Chế độ độc tài đảng trị đã hiện nguyên hình là một chế độ bạo tàn. Và Cộng Sản đã mất chính nghĩa, mất hậu thuẫn quần chúng và hậu thuẫn quốc tế.
Chế độ này là một chế độ man rợ, với những kẻ xét xử vô lương tâm và những điều luật phi lý, phi pháp và phi nghĩa.

Trước đó 6 tháng, tháng 12-2002, Nguyễn Khắc Toàn cũng đã bị kết án 12 năm tù về tội gián điệp, chỉ vì anh đã phổ biến trên Internet những tin tức về phong trào khiếu kiện, mít tinh và biểu tình tại Hà Nội của nông dân hai miền Nam Bắc đứng lên đòi lại đất đai đã bị tước đoạt.

Tháng 12, 2003 Nguyễn Vũ Bình cũng bị kết án 7 năm tù vè tôi gián điệp, chỉ vì anh đòi thành lâp Đảng Tự Do Dân Chủ đối lâp, và dã thông tri cho Quốc Hội Hoa Kỳ bản điều trần về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

Ngoài ra nhà cầm quyền Hà Nội còn bắt giữ và lập hồ sơ truy tố, cũng về tội gián điệp, một số chiến sĩ dân chủ khác như Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Nguyễn Đan Quế v...v...

V. THẬP DIỆN MAI PHỤC.

Vì không được quyền tranh luận trước tòa chúng tôi đã đệ trình quốc dân bản Thất Điều Trần để biện minh cho các bị can trong các vụ án gián điệp lạm phát nói trên mệnh danh là Dịch Gián Điệp.

Trong phần kết luận chúng tôi nhận định rằng ngày nay Cộng Sản sợ 7 điều (Cộng Sản Hữu Thất Cụ). 7 điều Cộng Sản sợ chính là 7 mặt trận đấu tranh của chúng ta để giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ.

  • 1) Cộng Sản sợ internet, sợ tin tức, sợ ý kiến: Chúng ta phát động mặt trận truyền thông.
  • 2) Cộng Sản sợ dư luận quốc tế, sợ mất chính nghĩa, sợ mất viện trợ đầu tư: Chúng ta phát động mặt trận quốc tế vận.
  • 3) Cộng Sản sợ đối lập chính trị. Chúng ta phát động phong trào tổ chức và kết hợp các lực lượng dân chủ ở trong nước và hải ngoại, đồng thời phối hợp đấu tranh giữa trong và ngoài.
  • 4) Cộng Sản sợ sự thật. Họ sợ sự thật lịch sử vì họ không có công giành độc lập và không có công thống nhất đất nước. Vì Việt Nam đã được độc lập và thống nhất từ 1949 chiếu Hiệp Định Élysée ngày 8-3-1949. Ngoài ra họ còn phản bội đồng bào trong các mục tiêu tự do dân chủ và mưu cầu hạnh phúc; Cộng Sản sợ sự thật xã hội, vì chế độ của họ vừa độc tài tham nhũng vừa bất công bất lực: Chúng ta phát động mặt trận truyền bá sự thật, phục hồi sự thật lịch sử tại quốc tế và quốc nội, để giành chính nghĩa tự do dân chủ và hậu thuẫn quần chúng.
  • 5) Cộng Sản sợ tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập đảng, tự do tuyển cử v...v... chúng ta phát động mặt trận đấu tranh đòi tôn trọng và thực thi những quyền tự do căn bản của người dân được ghi trong hiến pháp quốc gia và các công ước quốc tế.
  • 6) Cộng Sản sợ dân chủ. Tháng 8 vừa qua, họ đã kết án Phạm Hồng Sơn 5 năm tù chỉ vì anh đã phổ biến những kiến thức dân chủ của nhân loại văn minh: Chúng ta phát động mặt trận truyền bá dân chủ, phổ biến ý thức dân chủ, và những kỹ thuật pháp lý tiến tới việc thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị, dân chủ đại nghị, dân chủ đa đảng.
  • 7) Cộng Sản sợ nhân quyền: Chúng ta phát động mặt trận truyền bá nhân quyền, đấu tranh đòi thực thi nhân quyền và phản kháng những vi phạm nhân quyền.

Ngoài 7 mặt trận nói trên, chúng ta còn phát động 3 mặt trận: mặt trận tự do tôn giáo, mặt trận bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và mặt trận luật pháp tòa án.

  • 8) Mặt trận tự do tôn giáo đấu tranh đòi phóng thích các tù nhân tôn giáo đã bị giam giữ hay quản thúc độc đoán, đòi lại quyền sinh hoạt tự trị cho các giáo hội, và đòi lại các cơ sở tài sản của giáo hội để hoằng dương đạo pháp về văn hóa giáo dục và từ thiện nhân đạo.
  • 9) Mặt trận bảo vệ chủ quyền lãnh thổ tố cáo phe lãnh đạo Cộng Sản phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung Quốc; phủ nhận các Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung và Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ; chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, và đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • 10) Mặt trận luật pháp tòa án là trung tâm phối hợp các mặt trận đấu tranh để hóa giải võ khí đàn áp khủng bố của Cộng Sản. Vì ngày nay luật pháp tòa án chính là võ khí chiến lược của Cộng Sản để đàn áp đối lập và củng cố chính quyền.



Trong các vụ án gián điệp Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn và Nguyễn Vũ Bình có sự phối hợp giữa mặt trận luật pháp tòa án với mặt trận quốc tế vận và mặt trận truyền thông.

Trong phong trào phản kháng những vụï giam giữ và quản thúc độc đoán các nhà lãnh đạo tôn giáo như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, cụ Lê Quang Liêm v...v... có sự phối hợp giữa mặt trận luật pháp tòa án và mặt trận tự do tôn giáo.

Trong phong trào phản kháng vụ kết án Luật Sư Lê Chí Quang, có sự phối hợp giữa mặt trận luật pháp tòa án và mặt trận bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chống nhượng đất bán nước và chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

VI. TRANG BỊ PHÁP LY

Muốn giành ưu thắng trên mặt trận luật pháp tòa án, chúng ta - đặc biệt là các bạn trẻ trong và ngoài nước - cần trang bị những
kiến thức pháp lý để đấu lý đấu pháp với Cộng Sản. Xin các bạn ghi nhớ rằng luật pháp tòa án là khâu yếu nhất của Nhà Nước Cộng Sản. Vì tòa án Cộng Sản chỉ giải thích xuyên tạc luật pháp, và luật pháp Cộng Sản chỉ quy định những tội trạng giả tạo và cưỡng ép. Để đơn giản hóa, chúng ta chỉ đơn cử một thí dụ điển hình:

Hồi giữa thế kỷ 19 tại Luân Đôn, Các Mác công bố bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên dùng võ trang lật đổ các chế độ tư bản.

Trong một chế độ độc tài đảng trị như Việt Nam ngày nay, Các Mác có thể bị truy tố về 6 tội đại hình sau đây:

  • 1) Tội tuyên truyền chống chế độ tư bản, và sẽ có thể bị kết án 12 năm tù như trường hợp Trần Vọng Quốc hay Đoàn Thanh Liêm.
  • 2) Tội tuyên truyền chống nhà nước, và sẽ có thể bị kết án 4 năm tù như trường hợp Lê Chí Quang.
  • 3) Tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia do chủ trương chia rẽ giai cấp, đấu tranh giai cấp nhằm tiêu diệt các giai cấp phi vô sản, và có thể bị kết án 15 năm tù như trường hợp Linh Mục Nguyễn Văn Lý.
  • 4) Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ, và có thể bị kết án 32 tháng tù như trường hợp Nguyễn Vũ Việt hay Nguyễn Trực Cường.
  • 5) Tội phản nghịch hay âm mưu lật đổ chính quyền, và sẽ có thể bị kết án 20 năm tù như trường hợp Nguyễn Đan Quế.
  • 6) Tội gián điệp, vì đã cung cấp các tin tức tài liệu ra nước ngoài, để nước này sử dụng chống lại Nhà Nước, và sẽ có thể bị kết án 12 năm tù như trường hợp Nguyễn Khắc Toàn.

Tuy nhiên trong chế độ dân chủ pháp trị, Các Mác đã không bị truy tố và kết án về 6 tội này. Vì đó chỉ là những tội giả tạo hay cưỡng ép. Ngày nay Đảng Cộng Sản Việt Nam đã viện dẫn 6 tội này để bắt giam độc đoán những người đấu tranh cho tự do tôn giáo và tự do dân chủ.

  • 1. Các tội tuyên truyền chống chế độ và tuyên truyền chống nhà nước là những tội bịa đặt, giả tạo không thấy trong các bộ hình luật của các quốc gia dân chủ trên thế giới. Tuyên truyền không phải là một tội hình sự. Tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu quan điểm được nhân loại văn minh thừa nhận trong hiến pháp quốc gia và công ước quốc tế. Cũng vì vậy Các Mác đã không bị Tòa Án Luân Đôn truy tố và kết án về 2 tội này.
  • 2. Tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia hay phá hoại chính sách quốc gia thống nhất, viện dẫn để kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý và Hòa Thượng Thích Quảng Độ cũng là một tội bịa đặt, giả tạo, không thấy trong các Bộ Hình Luật của các quốc gia văn minh.

Trên bình diện chính trị, không thể và không nên có một chính sách quốc gia thống nhất hay duy nhất. Vì đó là dấu hiệu của độc tài, độc tôn. Chiếu nguyên tắc dân tộc tự quyết, quốc dân cần có nhiều đường lối, nhiều chính sách khác nhau, để cử tri có thể lựa chọn một chính sách mà họ cho là tương đối phù hợp nhất cho xã hội và bản thân.

Trên bình diện tôn giáo cũng vậy. Không thể và không nên có tôn giáo nhà nước, vì tôn giáo độc tôn là vi phạm tự do tôn giáo. Cũng không thể và không nên chỉ có một giáo hội duy nhất đại diện cho một tôn giáo như Phật Giáo hay Ki Tô Giáo.

Đối với nhà cầm quyền, thiết lập hay yểm trợ một tôn giáo (nhà nước) hay một giáo hội (quốc doanh) là vi phạm nguyên tắc Biệt Lập giữa Tôn Giáo và Nhà Nước (Separation of Church and State), vi phạm nguyên tắc Cấm Nhà Nước Thiết Lập Tôn Giáo hay Giáo Hội (Establishment of Religion Clause), vi phạm nguyên tắc Tự Trị Sinh Hoạt của các giáo hội và vi phạm các quyền tự do hội họp, tự do lập hội và tự do tôn giáo.

Khẩu hiệu “Đạo Pháp, Dân Tộc, và Xã Hội Chủ Nghĩa” nói lên chính sách can thiệp của Nhà Nước vào Tôn Giáo. Mục đích để kiểm soát và lũng đoạn tôn giáo, đồng thời tước đoạt tư cách pháp nhân của các giáo hội chân chính (không theo Xã Hội Chủ Nghĩa), dầu rằng giáo hội này có truyền thống sinh hoạt ngàn năm về truyền giáo và hành đạo như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Trên bình diện chính trị, Đảng Cộng Sản ngoài miệng hô hào đoàn kết giai cấp (trong Điều 87 Hình Luật), nhưng trên chủ thuyết đã chủ trương
tiêu diệt các giai cấp phi vô sản, và trên thực tế đã phát động đấu tranh giai cấp trong các Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Công Thương Nghiệp để vô sản hóa giai cấp nông dân tiểu tư sản và giai cấp tư sản thành thị.

Trên bình diện tôn giáo cũng vậy. Đảng Cộng Sản ngoài mặt hô hào đoàn kết tôn giáo (cũng trong Điều 87 Hình Luật), nhưng trên chủ thuyết đã chủ trương tiêu diệt tôn giáo, và trên thực tế đã đàn áp tôn giáo,
chia rẽ tôn giáo bằng cách thiết lập các giáo hội quốc doanh để tước đoạt tư cách pháp nhân của các Giáo Hội Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành v...v...

Ngoại trừ Giáo Hội Công Giáo thuộc hệ thống Vatican, Đảng Cộng Sản chỉ thừa nhận và đăng ký các giáo hội quốc doanh (kể cả Hội Công Giáo Yêu Nước) do họ thiết lập trong hệ thống Mặt Trận Tổ Quốc, đặt dưới quyền chỉ đạo của Ban Tôn Giáo Nhà Nước và Đảng Cộng Sản.

Mặc dầu đã thừa nhận trong hiến pháp quyền tự do tôn giáo, tự do lập hội (hội dân sự và hội tôn giáo) và không ngừng kêu gọi đoàn kết tôn giáo, Đảng Cộng Sản đã vi phạm quyền tự do lập hội, tự do tôn giáo, tự do truyềøn giáo và hành đạo. Họ đã cấm Linh Mục Nguyễn Văn Lý không được cử hành thánh lễ. Ngoài ra họ còn kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ chỉ vì đã tổ chức cứu trợ các nạn nhân lũ lụt.

Bất bình tắc minh, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã lên tiếng phản kháng. Họ tố cáo nhà cầm quyền đàn áp tôn giáo trong các bản điều trần gởi Quốc Hội Hoa Kỳ, Quốc Hội Âu Châu và các hiệp hội nhân quyền trên thế giới. Để trả đũa, Đảng Cộng Sản đã truy tố họ về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, đoàn kết tôn giáo.

Đảng Cộng Sản là kẻ phá hoại đoàn kết. Nhưng lại truy tố người khác về tội phá hoại chính sách đoàn kết.

Chẳng khác nào kẻ đi ăn cướp lại hô hoán bắt cướp, và kẻ sát nhân lại hô hoán “Tăng Sâm giết ngườùi”!

  • 3. Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ cũng là một tội bịa đặt, giả tạo. Về mặt pháp lý, lợi dụng có nghĩa là hưởng dụng, sử dụng hay hành sử. Do đó, lợi dụng quyền tự do dân chủ không phải là một tội hình sự. Đó chỉ là việc hành sử hợp pháp những quyền tự do dân chủ đã được thừøa nhận bởi hiến pháp quốc gia và công ước quốc tế:

a) Về mặt giáo dục, nếu có điều kiện, sinh viên có thể lợi dụng quyền tự do đi lại, tự do xuất ngoại và hồi hương để xuất dương du học, trau giồi các kiến thức khoa học kỹ thuật để một mai trở về phụng sự quốc gia.

b) Về mặt chính trị, cử tri có thể lợi dụng quyền tự do bầu cử, dùng lá phiếu để truất phế (trong vòng ôn hòa và hợp pháp) các chính phủ độc tài, tham nhũng, bất công hay bất lực.

c) Về mặt ngoại giao, tháng 3-1949, Tổng Thống Pháp ký Hiệp Định Élysée trao trả độc lập cho Việt Nam. Tháng 4-1949, đồng bào Miền Nam đã lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị, và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất.

Trong những trường hợp kể trên, lợi dụng quyền tự do dân chủ chẳng những là quyền lợi chính đáng, mà còn là nghĩa vụ cao quý của công dân.

Vả lại, tại Việt Nam ngày nay, vì không có dân chủ, nên không có cơ hội để lợi dụng quyền dân chủ!

  • 4. Tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân (hay tội phản nghịch) là một tội cưỡng ép lố bịch. Muốn cấu thành tội phản nghịch phải có yếu tố khởi sư ïhành động võ trang. Trong khi đó các bị can Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đình Huy v...v... chỉ là những thư sinh yếu đuối, trói gà không chặt và không có một tấc sắt trong tay. Họ chỉ kêu gọi nhà cầm quyền thực thi quyền dân tộc tự quyết bằng cách thay thế chế độ độc tài đảng trị bằng chế độ dân chủ pháp trị. Không ai có thểå lật đổ chính quyền đơn thuần bằng những lời kêu gọi.
  • 5. Tội gián điệp gán cho Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình cũng là một tội cưỡng ép lố bịch. Trong Bộ Hình Luật Việt Nam, tội gián điệp được xếp vào chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia đặc biệt nguy hiểm như tội phản quốc, mà hình phạt có thể đến tử hình. Do đó muốn cấu thành tội gián điệp phải có yếu tố xâm phạm an ninh quốc gia, bằng cách cung cấp những tin tức tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (như bí mật quân sự, bí mật quốc phòng) cho nước ngoài, để nước này sử dụng chống lại quốc gia, và gây nguy hại cho quốc gia.

Trong khi đó Nguyễn Khắc Toàn chỉ phổ biến trên internet các tin tức về phong trào khiếu kiện, mít tinh và biểu tình của nông dân. Đây là một hoạt động truyền thông, không phải là hành vi gián điệp.

Phạm Hồng Sơn chỉ phổ biến trên internet các ý kiến về dân chủ của nhân loại văn minh. Đây là một hoạt động công dân giáo dục, không phải là hành vi gián điệp.

Nguyễn Vũ Bình chỉ phổ biến bản điều trần cho Quốc Hội Hoa Kỳ về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Đây chỉ là việc hành sử quyền tự do phát biểu, tự do thông tin được thừa nhận bởi Hiến Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc Tế.

Mặc dầu vậy Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình và Phạm Hồng Sơn đã bị kết án 12 năm tù, 7 năm tù và 5 năm tù về tội gián điệp.

Luật pháp Cộng Sản đúng là luật rừng xanh của loài cầm thú. Và tòa án Cộng Sản chỉ là tòa án trò hề của loài đại thử.

ƯỚC VỌNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Trong sách lược Thập Diện Mai Phục chúng ta chủ trương đấu tranh 10 mặt để giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ. Trong sách lược này chúng ta không đề cập đến diễn biến hòa bình.

Ngày nay Hoa Kỳ và đồng minh muốn phát triển các tương quan ngoại giao, kinh tế và văn hóa với Hà Nội để hy vọng thực hiện lộ trình diễn biến hòa bình, cho Việt Nam hội nhập vào cộng đồng các quốc gia dân chủ trên thế giới.

Đó cũng là ước vọng của chúng ta.

Mọi người kỳ vọng rằng, với sự phát triển kinh tế thị trường, sự giao lưu văn hóa và trao đổi tin tức ý kiến, rồi đây dân trí sẽ mở mang, đời sống kinh tế của người dân sẽ thoát khỏi sự kiềm tỏa của nhà nước, và ý thức dân chủ sẽ khai thông kỷ nguyên hòa bình và tiến bộ.

Kinh nghiệm Đông Âu cho biết, nhờ có trao đổi tin tức ý kiến, người dân lần lần hiểu rõ bản chất của Cộng Sản. Và khi họ đã biết rõ mặt thật Cộng Sản, thì không còn ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa, và chế độ đã tiêu vong. Tại Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi, chế độ Cộng Sản đã bị giải thể bằng diễn biến hòa bình.

Điều đáng lưu ý là các nhà lãnh đạo Cộng Sản Âu Châu thường có tinh thần thể thao phục thiện. Sau những cuộc tổng tuyển cử tự do, khi thấy người dân không còn tín nhiệm chế độ nữa thì họ đã lặng lẽ rút lui.

Việc này sẽ không xảy ra tại Việt Nam. Vì những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam không suy nghĩ và hành động như những người Cộng Sản Âu Châu. Họ không bao giờ dám tổ chức tuyển cử tự do để biết rõ nguyện vọng của người dân. Thay vì có tinh thần thể thao phục thiện, họ lại bất phục ngoan cố. Thay vì ngay thẳng bộc trực, họ lại ngụy trang dối trá. Thay vì công bằng trọng pháp, họ lại bao che tham nhũng. Họ không phải là những người yêu nước và không đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của phe đảng. Họ chỉ giả nhân giả nghĩa, lợi dụng các ngân khoản viện trợ để trang bị bộ máy công an nhằm đàn áp đối lập và củng cố chính quyền.

Hơn nữa họ không bao giờ tôn trọng giao lưu văn hóa và trao đổi tin tức ý kiến với thế giới dân chủ. Họ chỉ lợi dụng giao lưu văn hóa một chiều để tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật, nhằm tạo huyền thoại cho Hồ Cho Minh, và gây uy tín cho Đảng Cộng Sản được độc quyền lãnh đạo quốc gia.

Như vậy nếu có đổi mới thì cũng chỉ là thay đổi về hình thức, chứ không thay đổi về thực chất. Trong điều kiện này, nếu chúng ta chỉ kỳ vọng vào diễn biến hòa bình, mà không hy sinh tranh đấu, thì đến năm 2045 - nghĩa là 100 năm sau khi Cộng Sản cướp chính quyền - xã hội của chúng ta cũng sẽ không bằng xã hội Miền Nam năm 1975 thời Việt Nam Cộng Hòa.

Do đó phương châm hành động của chúng ta vẫn là:

  • Hãy tự giúp mình rồi Trời sẽ giúp ta.

    Hãy hy sinh và chiến đấu rồi đồng minh sẽ giúp ta.

    Diễn biến hòa bình chỉ là một ước vọng, không phải là sách lược.



Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Trong Câu Lạc Bộ Văn hóa Việt Nam

Ls Nguyễn Hữu Thống

0 Comments:

Post a Comment

<< Home