HO SO TOI AC CONG SAN VIET NAM

Thursday, April 20, 2006

AI GIẾT ĐỨC THẦY

TIẾT-LỘ BÍ-MẬT: AI GIẾT ĐỨC THẦY,

TỨC GIÁO-CHỦ PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO HUỲNH-PHÚ-SỔ?

Trong lịch sử chống ngoại xâm, chưa có cuộc chiến tranh vệ quốc nào kỳ cục như cuộc chiến chống Pháp vào năm 1945 mà CS gọi là "cách mạng tháng 8". Dùng thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, lừa bịp, gây chia rẽ, khủng bố, tàn sát... để chiếm cho được chính quyền trong tay người quốc gia, Việt Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến đi lòng vòng, phí biết bao nhiêu nhân lực, vật lực, tài lực, đến khi chiến thắng thì đất nước đã khánh tận. Kéo dài cuộc kháng chiến để Việt Minh có đủ thì giờ "hy sinh những người anh em" ngoài đảng. Nhờ những người này, đảng mới được hưởng vinh quang... hẩm”.

Bài này kể lại những điều tai nghe mắt thấy của người trong cuộc. Có người theo suốt cuộc kháng chiến tới ngày thành công, có người bỏ cuộc vì thấy rõ dã tâm của CS, có người là nạn nhân của những vụ ám sát... hụt, có kẻ bàng quan. Dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào, người ta cũng thấy rõ tính chất lừa bịp, một cuộc lừa bịp vĩ đại hào nhoáng nhất trong lịch sử, Chúng tôi xin nghiêng mình truớc các anh hùng liệt sĩ, những người xả thân chiến đấu và bị lợi dụng, không chết trước họng súng kẻ thù mà chết vì sự khủng bố tàn bạo của "người anh em".

Lâm Ủy Hành Chánh thành lập hôm 24.8.45, thì hôm sau "Quốc Gia Tự Vệ” ra đời. Trái ngược với tên gọi, "Quốc Gia Tự Vệ Cuộc" không phải là lực lượng kháng chiến, chống quân thù, mà có nhiệm vụ lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu đồng bào bằng hình thức chặt đầu, mổ bụng, cho "mò tôm", móc mắt, cắt lưỡi, và nhiệm vụ khác là bảo vệ sinh mạng của những kẻ đã ra lệnh tàn sát dân tộc ấy. Quốc Gia Tự Vệ Cuộc buổi đầu thâu dụng những thành phần sống ngoài vòng pháp luật, những tên đao búa, những tên trôi sông lạc chợ, đầu trộm đuôi cướp như Tô-Ký, ba Nhỏ, Đào-Công-Tâm, Kiều-Đắc-Thắng, Bửu-Vinh, Hoàng-Thọ... Sẵn hận thù chất chứa, nay có quyền sinh sát, lại quen nghề chém giết, bọn "Quốc Gia Tự Vệ Cuộc" giết người tàn bạo còn hơn đối với kẻ ngoại xâm. Lúc đó, Lâm Ủy Hành Chánh đóng vai trò như một chính phủ của miền Nam, một chính phủ giành giựt của người khác, nhưng không có quân đội, làm sao kháng chiến? Bốn sư đoàn dân quân được Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất thành lập hôm 17.8.45, thì không có sư đoàn nào của Việt Minh. Vì thế họ giải tán, hoặc tìm cách phá nát. Lựa trong "đám mặt rằn", Lâm Ủy Hành Chánh phong chức:

- Kiều-Đắc-Thắng nắm toàn quyền sanh sát với chức “giám đốc công an miền Đông”. Dương-Bạch-Mai, thanh tra chính trị cũng là hung thần, nhưng không có quân hành động trực tiếp.

- Ba Nhỏ, trưởng ban ám sát, bắt cóc, thủ tiêu theo mật lệnh. Phạm vi của Ba Nhỏ là Saigon, Chợ-Lớn.

- Lý-Công-Vinh, công an, cánh tay đắc lực của Trần-Văn-Giầu, chuyên hạ sát các lãnh tụ quốc gia. Đào-Công-Tâm trước là lính trong toán của Ba Nhỏ. Thấy Tâm giết người không gớm tay, Việt Minh nâng đỡ, cho làm chính trị viên tiểu đoàn 66 của Long-Xuyên.

Với những tay giết người chuyên nghiệp, say máu, mệnh danh là "quốc gia tự vệ cuộc" do Nguyễn-Văn-Trấn làm giám đốc, trong những năm kháng chiến, Việt Minh đã gieo kinh hoàng cho tất cả mọi người.

AI GIẾT ĐỨC THẦY, TỨC GIÁO-CHỦ PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO HUỲNH-PHÚ-SỔ?

Cuộc kháng chiến của toàn dân khởi đi trong bầu không khí sôi nổi, phấn khởi vô cùng. Tháng 9.45, hầu như tất cả dân chúng miền Nam đều ủng hộ Việt Minh. Nhưng chỉ vài tháng sau, với chính sách sắt máu như bắt cóc, cho "mò tôm", chặt đầu, móc mắt, cắt lưỡi, mổ bụng... những nạn nhân bị chụp mũ “Việt gian”, “phản động”, “phản cách mạng”, đã tạo ra một làn sóng căm phẫn bao trùm đất nước. Cuộc kháng chiến xẹp lép như trái banh xì hơi. Những người còn sống sót, con cháu nạn nhân tìm chỗ tỵ nạn, buộc lòng phải "về thành" để tránh bị Việt Minh tàn sát lần nữa. Họ đành chịu mang tiếng "hợp tác với giặc Pháp". Sinh lực kháng chiến tiêu tan ngay, tạo đà cho quân Pháp chiếm lại các tỉnh miền Nam chỉ trong vòng... 4 tháng!

Chỉ trong vòng hai tháng, giành quyền đại diện dân chúng miền Nam, Việt Minh đã biến tình đoàn kết thành nội thù. Các vụ giết người mờ ám, các vụ khủng bố đẫm máu... làm cho mọi người thức tỉnh. Phi nghĩa và làm mất thế đoàn kết ngay khi Việt Minh ra lệnh đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình của Phật-giáo Hòa-Hảo tại Cần-Thơ. Theo lệnh Đức Thầy, để chống lại sự độc tài của Việt Minh, tín đồ PGHH các vùng lân cận tỉnh Cần-Thơ và một số thị dân... kéo về biểu tình rầm rộ với tay không và biểu ngữ. Cuộc biểu tình có xin phép chủ tịch ủy ban hành chánh là ông Trần-Văn-Khéo. Sáng sớm hôm 8.9.45, khi đoàn người biểu tình kéo vào châu thành Cần-Thơ, thì CS xả súng bắn loạn xạ. Trong đám biểu tình cũng có một số "bảo an" với tầm vông vót nhọn, làm sao chống lại súng đạn? Trước đó, VM mời đại diện của Hòa-Hảo ở Cần-Thơ là các ông Huỳnh-Thanh-Mậu (bào đệ đức Thầy), Nguyễn-Xuân-Thiếp (anh họ nhà văn Nguyễn-Hiến-Lê) và Trần-Văn-Hoành (con trai ông Năm Lửa) đến thương thuyết nhưng thất bại. Nhiều người tham dự cuộc biểu tình này, chỉ có tay không với bình nước uống, vừa từ dưới ghe cập bến, đã bị tự vệ của VM bắn chết ngay tại bờ sông. Trong vụ thảm sát này, ông Hoàng-Quốc-Kỳ, một người kháng chiến tập kết về Bắc, gặp lại bạn cũ, là người đã xả súng bắn lại đám biểu tình ấy, kể lại như sau:

“Nguyễn-Văn-Nghệ, một tay súng tiểu liên đầu đàn của vệ quốc đoàn miền Tây Nam bộ kể lại trận “tắm máu” đó: “Tụi Hòa-Hảo gan cùng mình! Lớp này ngã xuống, lớp khác tiến lên, cả đàn bà con nít cũng vậy. Bóp cò đến run cả tay, máu loang đỏ hết mặt đường, mà chúng vẫn nhào vô họng súng. Chiến sĩ ta đã tản thần, nhưng lệnh bắt phải bắn tiếp". Đàn áp xong, VM dùng xe có loa phóng thanh, chạy khắp đường phố loan tin:

- Hòa-Hảo dùng xe vượt sông Cần-Thơ, đổ bộ vào châu thành, bị "vệ quốc đoàn" đẩy lui. Họ lên án: Hòa-Hảo âm mưu cướp chính quyền ở Cần-Thơ.

Mới hai hôm trước, vì bị chỉ trích độc tài, Lâm Ủy Hành Chánh xin cải tổ, để tên Phạm-Văn-Bạch thay thế chức chủ tịch, Giầu vẫn nắm quân sự. Ủy Ban Hành Chánh cố khẩn khoản mời Đức Thầy làm cố vấn đặc biệt. Trở mặt như phường vô lại, đem 9.9.45, Giầu mật lệnh cho tự vệ, thanh niên tiền phong, tới bao vây trụ sở PGHH tại góc đường Miche và Sohier (Phùng-Khắc-Khoan) để bắt Đức Thầy, nhưng chỉ bắt được mấy trăm tín đồ. Liên tục những ngày kế tiếp, VM mở chiến dịch khủng bố PGHH. Chúng ra lệnh truy lùng, bắt cóc, thủ tiêu các nhân sĩ có uy tín của Hòa-Hảo như Chung-Bá-Khánh, Lâm-Thành-Nguyên, Võ-Văn-Thời, Trương-Đại-Lượng, Lý-Công-Quân, Nguyễn-Hữu-Trinh... Cũng cần nhắc thêm rằng hôm 5.9.45, Nguyễn-Thanh-Sơn, thanh tra chính trị miền Tây, có mời ông Chung-Bá-Khánh với tư cách đại diện cho Hòa-Hảo, đi thuyết trình ở Sóc-Trăng, kêu gọi dân chúng ủng hộ Việt Minh. Còn ông Trương-Đại-Lượng, đại diện PGHH, làm cố vấn cho ủy ban hành chánh Sóc-Trăng mà Dương-Kỳ-Hiệp làm chủ tịch và Tạ-Bá-Tòng làm phó, Một số lớn những người bị bắt ở Cần-Thơ như Chung-Bá-khánh, Lâm-Thành-Nguyên, Võ-Văn-Thời, Đỗ-Hữu-Thiều đem giam ở Trà-Vinh. Sau đó, VM đem họ xuống Ba-Động, một làng ven biển, để trấn nước chết. Riêng ông Lâm-Thành-Nguyên, nhờ biết bơi, bình tĩnh cởi trói, bơi vào bụi rậm ẩn núp, trốn thoát được. Một tháng sau, VM đem các ông Huỳnh-Thành-Mậu, Nguyễn-Xuân-Thiếp, Trần-Văn-Hoành ra xử bắn tại sân banh Cần-Thơ.

Vì đại nghĩa quên thù nhà (em ruột bị giết), lại mới thoát nạn do VM đột kích, nhưng Đức Thầy cũng lấy lòng từ bi hỷ xả, một lần nữa lại chủ trương đoàn kết dân tộc, thành lập "Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Kháng Chiến", cho phép thành phần CS tham gia. Chính Đức Thầy cũng nhiều lần kêu gọi mọi người bỏ qua hiềm khích để bảo vệ tổ quốc lâm nguy.

Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Kháng Chiến ra đời vào ngày 20.4.46, gồm đại diện các đảng phái chính trị, tôn giáo, Bình-Xuyên và CS nữa. Thành phần lãnh đạo gồm:

- Chủ tịch: Hoàng-Anh (bí danh của Đức Thầy).

- Phó chủ tịch: Võ-Tam-Anh.

- Thư ký: Mai-Thọ-Trân.

- Tuyên truyền: Lê-Trung-Nghĩa.

- Ủy viên quan sự: Huỳnh-Văn-Tri (Mười Trí).

Phía CS tham dự mặt trận này có: Phạm-Thiều, Mai-Thọ-Trần (chính trị), Phan-Đình-Công, Huỳnh-Tấn-Chùa (quân sự).

Thâm tâm của CS khi gia nhập mặt trận là để xâm nhập, lũng đoạn, phá hoại và lôi kéo Mặt trận ngả về phe CS. Âm mưu ấy thất bại, Nguyễn-Bình tung ra một tổ chức khác, có tên gọi na ná giống nhau "Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt-Nam" gọi tắt là "Hội Liên Việt". Từ đó, các phần tử CS trong Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp được lệnh rút khỏi mặt trận này.

*

Cho đến nay, dư luận và nhiều sách báo xuất bản tại miền Nam, đều quy tội cho Bùi-Vinh chính là kẻ sát nhơn. Ông Nguyễn-Long Thành-Nam, được coi như người phát ngôn chính thức của PGHH, đã viết:

“... Hôm sau, Đức Thầy nhận được 2 văn thơ: một của Trần-văn-Nguyên, đặc phái viên, kiêm thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ, và một của Bửu-Vinh, mời Ngài đến dự hội nghị, họp tại làng Tân-Phú,, để định liệu kế hoạch hòa giải giữa Việt-Minh và Hòa-Hảo Dân Xã.

Vào 7 giờ sáng ngày 15.4.1947 (24 tháng 2 nhuần), Đức Thầy xuống ghe đi với 3 người chèo, 4 tự vệ quân, ông đại đội trưởng đại đội 2 và người thơ ký văn phòng là ông Huỳnh-Hữu-Thiện. Lối 8 giờ sáng, ghe tới chợ Ba-Răng, có Trần-Văn-Nguyên xuống đón Ngài lên chợ. Ngài đi diễn giảng trước đám đông người, kêu gọi đoàn kết chống xâm lăng, và gạt bỏ hận thù giữa Việt Minh và Dân-Xã. Trưa lại, Ngài dùng cơm với Trần-Văn-Nguyên trong một căn phố gần đó. Sau bữa cơm, độ 12 giờ, Trần-Văn-Nguyên và một thơ ký xuống ghe đi chung với Ngài đến Đốc vàng Hạ, thuộc thôn Tân-Phú. Đến đây, một bản hiệu triệu được công bố cho biết các cấp chỉ huy hai bên bắt tay nhau lo việc hòa giải, và kêu gọi hai bên đừng xô xát nhau.

Sau khi dùng cơm trưa, Đức Thầy lại nghỉ ở nhà một tín đồ gần đó. Hôm sau, ngày 16.4.1947, lối 7 giờ sáng, Đức Thầy trở lại hội đàm với Trần-Văn-Nguyên, rồi phái ông Ngô-Trung-Hưng cùng một nhân viên của Trần-Văn-Nguyên đi các thôn hòa giải.

Sau khi dùng bữa cơm trưa, Đức Thầy xuống ghe nghỉ, thì Bửu-Vinh đến đưa thơ yêu cầu được gặp Ngài. Trong cuộc hội kiến, Bửu-Vinh báo cáo rằng "Dân-Xã giết VM ở Lấp Vò, và buộc Đức Thầy phải đi, nhưng Ngài tỏ ra cương quyết biện bác và đòi Bửu-Vinh cùng đi. Bửu-Vinh khước từ và đòi phải có bộ đội võ trang theo phòng vệ thì mới đi. Ngài trả lời một cách cứng cỏi:

- Tại sao tôi có một ít người, không có bộ đội ủng hộ, lại dám vào sào huyệt của các ông? Như thế quý ông không thành thật.

Bùi-Vinh không trả lời được, nên buộc lòng phải đi và yêu cầu Đức Thầy đến văn phòng của y để cùng đi. Liền lúc đó, Trần-Văn-Nguyên đến trao cho Ngài một mảnh giấy nói rằng “có điện tín từ Ủy Ban Hành Chánh Nam-Bộ mời Đức Thầy trở về miền Đông lập tức để dự phiên họp bất thường".

Đức Thầy trả lời “không thể trở về để dự phiên họp được, vì còn lo việc hòa giải". Chiều hôm ấy, Trần-Văn-Nguyên từ giã Ngài vào lúc nhá nhem tối.

Y hẹn, Đức Thầy xuống ghe, đến văn phòng Bửu-Vinh, có một liên lạc viên dẫn đường. Trời tối đen như mực, bỗng có tiếng kêu:

- Ghe ai đó? Sao giờ này đã thiết quân luật mà còn dám đi?

Người liên lạc trả lời:

- Đi lại văn phòng ông Bửu-Vinh!

Liền đó, có lệnh biểu ghe ghé lại. Rồi đèn chói rọi xuống, khi biết là ghe của Đức Thầy, chúng nói:

- Ông Bửu-Vinh mời Đức Thầy lên văn phòng.

Đức Thầy cùng 4 tự vệ quân lên một ngôi nhà ngói. Ngài vào ngồi bàn giữa, nói chuyện với Bửu-Vinh, còn 4 tự vệ quân cầm súng đứng hai bên, gần cửa. Mười phút sau, lối 7 giờ rưỡi, có 8 người từ bên ngoài đi vào, chia làm 4 cặp, tràn tới đâm 4 tự vệ quân. Ba người bị đâm chết, chỉ còn một người thứ tư là Phan-Văn-Tỷ, lanh trí nên tránh kịp, liền thoát ra ngoài, bắn một loạt tiểu liên. Trong lúc anh Tỷ né, thì một trong hai tên VM bị đồng bọn của mình đâm chết.

Thấy chuyện chẳng lành, Đức Thầy lanh lẹ thổi tắt ngọn đèn, văn phòng trở nên tối đen, không ai nhận ra Đức Thầy đâu cả...”

("Phật-Giáo Hòa-Hảo trong dòng lịch-sử dân-tộc" trang 430).

Chúng tôi may mắn, được hầu chuyện cùng cụ Lâm-Quang-Phòng, một nhân vật tên tuổi của miền Tây thời kháng chiến. Năm nay cụ Lâm 81 tuổi, tinh thần vẫn còn khang kiện. Cụ từ tốn, không muốn kể lại thành tích của bộ đội mình, nhưng chúng tôi tìm hiểu thêm trong các tài liệu, thì bộ đội Lâm-Quang-Phòng ra đời trong hoàn cảnh miền Nam vùng lên chống Pháp cuối năm 1945. Bộ đội Lâm-Quang-Phòng tự tuyển mộ, trang bị võ khí và lập nhiều chiến công vang dậy khắp miền Tây. Thành tích lớn nhất là cướp được chiến xa của Pháp từ biên giới Miên tràn qua Hà-Tiên, đem về triển lãm cho công chúng Hà-Tiên xem. Chiến lợi phẩm ấy còn vẻ vang hơn 2 cây súng đại bác 105 ly lấy được trong trận chiến thắng Tầm-Vu (Cần-Thơ) năm 1948, do Huỳnh-Phan-Hộ chỉ huy. Thành tích ấy không được CS nhắc tới trong các tài liệu, sách sử của họ vì ông Lâm-Quang-Phòng không phải là đảng viên.

Khi bác sĩ Việt Minh là Trương-Công-Trung than rằng "thiếu dụng cụ y khoa để mổ xẻ cứu các thương binh", thì bộ đội Lâm-Quang-Phòng tình nguyện đánh vào Bạc-Liêu, chiếm bệnh xá, tịch thu hết các dụng cụ y khoa và thuốc men đem đem về cho. Năm 1947, cụ Lâm-Quang-Phòng là đại đội trưởng đại đội 64 Hà-Tiên. Còn Bửu-Vinh là đại đội trưởng đại đội 66 Long-Xuyên. Cụ Lâm quả quyết rằng “chính Đào-Công-Tâm, chính trị viên của đại đội 66 chủ động hạ sát Đức Thầy. Cả toán thích khách phục kích sẵn trong ngôi nhà mới của Đức Thầy vào họp, rồi ùa ra đâm loạn đả vào mọi người (tự vệ quân của Đức Thầy) khi đèn tắt. Đào-Công-Tâm đã hạ sát Đức Thầy chớ không phải Bửu-Vinh”. Nói như vậy không phải Bửu-Vinh vô tội. Hắn đồng lõa, sắp đặt âm mưu như Trần-Văn-Nguyên. Chính Đào-Công-Tâm còn lấy được một cây súng nhỏ (6.65) của Đức chế tạo (?), do Ủy Ban Hành Chánh Nam bộ tặng Đức Thầy khi Ngài nhận chức cố vấn đặc biệt. Cây súng ấy, bá súng có nạm vàng, và Đào-Công-Tâm đã trao cây súng lại cho Phan-Trọng-Tuệ, lúc đó là chính ủy khu 9.

Theo cụ Lâm, Bửu-Vinh là người hoàng phái, trước làm thơ ký kho bạc tại một tỉnh miền Trung, thụt két, bỏ trốn vào Nam. Vinh làm đủ mọi nghề lao động chân tay, trốn tránh ngoài vòng pháp luật. Có lúc Bửu-Vinh trôi dạt tới Phú-Quốc, gia nhập bộ đội Lâm-Quang-Phòng của cụ. Vinh đánh giặc gan lì, hiếu sát nên được cử làm tiểu đội trưởng. Ít tháng sau, Vinh ngả theo Việt Minh. Với khả năng giết người chuyên nghiệp, Vinh như người tìm được vận hội mới. Đầu năm 1947, Vinh làm đại đội trưởng đại đội 66 Long-Xuyên.

Đào-Công-Tâm là người Hải-Phòng, vào Nam sinh sống khá lâu. Từ chỗ làm phu đồn điền ở Hớn-Quản (như Lê-Đức-Anh), hắn bỏ trốn xuống Saigon làm phu khuân vác và đủ các nghề chân tay để sống. Khi Việt Minh cướp chính quy?n, dung nạp các thành phần bất hảo, Tâm liên gia nhập "Quốc Gia Tự Vệ Cuộc" tức công an. Vốn hận thù những người may mắn, giầu có hơn hắn, nên Tâm say máu giết người. Từ chức tiểu đội trưởng tự vệ, Tâm tiến lên trung đội trưởng và được đề bạt làm chính trị viên đại đội 66 của Bửu-Vinh. Đầu trộm đuôi cướp gặp nhau, họ làm việc rất tương đắc. Đại đội này đánh Pháp thì ít, mà chận đánh các bộ đội của người quốc gia thì nhiều. Tâm có vóc người ốm, dong dỏng cao, lưng hơi khòm, mắt ti hí, người Nam gọi mắt lươn, môi chì mặt mét. Nghề rình rập, truy lùng, ám sát, thủ tiêu rất hợp với khả năng của hắn.

Những ai từng ở trong kháng chiến thời đó tại miền Tây Nam bộ, chắc có nghe Việt Minh ngụy tạo vụ án “Hòa-Hảo ăn thịt người” để tuyên truyền lừa bịp? Sau vụ đàn áp cuộc biểu tình của Hòa-Hảo đẫm máu tại Cần-Thơ, dân chúng, tín đồ miền Tây xa lánh họ. Việt Minh lại trình diễn luôn hai màn "lừa bịp mới". Thứ nhất, để lợi dụng các tôn giáo, năm 1949, theo chỉ thị của Lê-Duẩn, tổ chức “Đại hội liên tôn quốc doanh" ở xã Tân-Duyệt, Bạc-Liêu. Tôn giáo nào cũng có đại diện, trừ Hòa-Hảo. Ông Hoàng-Quốc-Kỳ kể lại vụ lừa bịp không tiền khoáng hậu ấy như sau:

“... Sau đại hội liên tôn, hắn (Lê-Duẩn) sai những tên đảng viên CS ác ôn, thân tín nhất, chọc tiết cả chục tù nhân, rồi chặt đầu, xẻ thịt, y như người ta ra thịt heo, bầy bán giữa ban ngày trên bờ sông Vịnh Chèo, thuộc tỉnh Cần-Thơ. Ghe xuồng nào đi ngang qua, cũng bị chặn lại, dí súng, dao găm vào cổ, bắt phải mua thịt... người. Đến khúc sông vắng, người ta vội vàng vứt xuống sông để khỏi ói mửa. Rồi các ty tuyên truyền khắp Nam bộ đem triển lãm hàng trăm tấm ảnh cỡ 18-24 chụp thớt thịt trên sông Vịnh Chèo, với những đầu lâu, những cánh tay còn nguyên ngón, kèm lời "thuyết minh":

"Bọn Hòa-Hảo man rợ Cần-Thơ đã giết cán bộ và thường dân không chịu theo chúng, rồi xẻ thịt bầy bán trên sông Vịnh Chèo, bắt dân chúng mua về ăn. Ai không chịu bỏ tiền ra mua, chúng liền giết ngay tại chỗ, rồi xẻ thịt người ấy bày lên thớt..."

Xảo quyệt và gian trá như vậy, nhưng không lừa bịp được ai. Người địa phương vạch mặt bọn giết người dã man ấy, nếu nói Hòa-Hảo thì cả quận này người ta đều quen biết nhau hết, và họ đâu có thấy dân địa phương đứng bán thịt... người. Đó là những người có giọng nói nặng trịch khó nghe... Với chiến dịch ngậm máu phun người, tuyên truyền bịp bợm vừa tung ra, tự nó xẹp ngay, bởi vì nó lộ liễu quá..."

(Sách “Ma đầu HCM” của Hoàng-Quốc-Kỳ, trang 128).

Trong thời gian kháng chiến, Việt Minh giết người mổ bụng, trói thúc ké thả xuống sông "cho mò tôm". Mấy hôm sau, thây ma sình thối, trôi lều bều. Họ rỉ tai dân chúng: "Hòa-Hảo giết người đấy!"

VIỆT-MINH PHÁ NÁT ĐỆ-TAM SƯ-ĐOÀN “VIỆT-NAM QUỐC-DÂN-ĐẢNG”:

Nguyễn-Hòa-Hiệp xuất thân trong một gia đình điền chủ tại Phú-Long, tỉnh Thủ-Dầu-Một (Sông Bé). Sau khi đậu Diplome (Trung học đệ nhất cấp), ông làm tham tá bưu điện. Năm 1929 Nguyễn-Hòa-Hiệp cùng Nguyễn-Phương-Thảo tức Nguyễn-Bình sau này, cùng gia nhập Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng hệ phái miền Nam. Giữa tháng 8.45, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ra đời, tập họp toàn dân kháng Pháp, quyết định lập 4 sư đoàn dân quân. Nguyễn-Hòa-Hiệp được cửa làm chỉ huy trưởng đệ tam sư đoàn, Lý-Hồng-Chương làm phó.

Thấy tình hình Nam Bộ có nhiều đơn vị kháng chiến không chịu nhận mệnh lệnh CS, Hồ-Chí-Minh cử Nguyễn-Bình vào "thống nhất các lực lượng quân sự ấy”. Những ai đầu phục, họ thu nhận, rồi tìm cách ám sát. Những đơn vị nào không hợp tác, Bình tìm cách phá nát. Ăn không được phá cho hôi là chủ trương của Việt Minh. Càng nhắc tới những thủ đoạn của người CS, những người từng ở trong hàng ngũ kháng chiến không ngăn được sự bực tức, bất mãn. Đệ tam sư đoàn có lực lượng "dân quốc quân" làm nòng cốt, nên có kinh nghiệm chiến đấu. Nhiều lần, Việt Minh chiêu dụ, mua chuộc không được, họ tìm cách tiêu diệt. Nguyễn-Bình ra lệnh:

- Khi các sư đoàn dân quân di chuyển tới đâu, các ủy ban hành chánh cấm giúp đỡ. Dân địa phương bị cấm liên lạc, tiếp xúc với họ. Đồng thời mật báo vị trí đóng quân để Pháp nhả đại bác, oanh tạc tiêu diệt. Đệ tam sư đoàn lâm vào tình trạng bị phong tỏa, cô lập. Để tránh tan rã, Nguyễn-Hòa-Hiệp cùng một số đơn vị chiến đấu khác phải bỏ khu 7 (các tỉnh miền Đông), rút về Hậu-Giang. Trên đường tháo chạy, đơn vị này đụng độ với 2 đại đội của Việt Minh: chi đội 18 của Nguyễn-văn-Xuyến và chi đội 12 của Nguyễn-Tấn-Chùa chận đánh... Do sự chỉ điểm của Nguyễn-Bình, Pháp oanh tạc nhiều lần, binh sĩ tử thương rất nhiều, trong số đó có thi sĩ Khổng-Dương (Trương-Văn-Hai) tử nạn ở Xẻo-Rô, trên đường về Long-Xuyên.

TỘI ÁC CỦA VIỆT MINH ĐỐI VỚI CAO-ĐÀI:

Tiêu diệt tôn giáo, đảng phái, Bình-Xuyên, là chủ trương của CS ngay khi nắm được chính quyền ở Nam Bộ bằng cái "Lâm Ủy Hành Chánh". Nếu Trần-Văn-Giàu đã gieo tang tóc cho đất nước đang lâm chiến bao nhiêu, thì tội ác của Nguyễn-Bình đối với tôn giáo, đảng phái cũng tày trời bấy nhiêu. Thủ đoạn của Việt Minh là mua chuộc, lôi kéo họ về phe nhóm, phục vụ quyền lợi của CS, làm viên gạch lót đường, làm con chốt hy sinh. Ai ngoan ngoãn thì lợi dụng có giai đoạn, sau đó tìm cách ám sát, gọi là "tử trận", "hy sinh"... Biết rõ âm mưu ấy, Cao-Đài, Tây-Ninh bị chúng đánh phá, bất hợp tác, phải kéo về Tây-Ninh để tránh bị tiêu diệt. Thất bại, Việt-Minh lập một kế hoạch lừa bịp mới: lập nhóm Cao-Đài ly khai ở Bạc-Liêu, chiêu dụ họ đứng vào phe kháng chiến. Chống xâm lăng là một nghĩa vụ của người công dân, một tín đồ, nhưng phục vụ riêng cho của CS thì... tôn giáo nào cũng từ chối. Phái Cao-Đài của ông Cao-Triều-Phát và Trần-Đạo-Quang ở Bạc-Liêu bị lừa vào cái bẫy sập đó.

Cao-Triều là một dòng họ lớn, nhiều người là đại điền chủ, có con cái ăn học bên Tây. Cao-Triều-Phát là một trong những cự phú xứ "công tử coi tiền như rác". Giầu có lớn, nhưng Cao-Triều-Phát là người có tâm đạo, làm việc nghĩa, tính tình hiền lành. Từ khi biết mình bị lừa vào hang cọp, cụ âm thầm chịu đựng, đóng trọn vai trò lừa bịp do CS dàn dựng. Từ khi khai đạo tại Tây-Ninh, Cao-Đài lần lượt chia nhiều phái: Cao-Đài Tây-Ninh, Cao-Đài Bến-Tre của Lê-Kim-Tỵ, Nguyễn-Ngọc-Tương và Cao-Đài Minh-Chơn Hậu-Giang của cụ Cao-Triều-Phát và chưởng pháp Trần-Đạo-Quang. Năm 1932, Thánh-Thất Cao-Đài Minh-Chơn đặt tại thất Giồng Bốn, làng Phong-Thạnh, quận Giá-Rai, tỉnh Bạc-Liêu, lấy tên là Thánh-Thất Ngọc-Minh. Rún ép, đe dọa, Việt Minh dùng thủ đoạn bắt cụ Cao làm bình phong để có danh nghĩa, cho chúng lập “Đại hội liên tôn quốc doanh”. Trước đó, với sự dàn dựng của VM,”Cao-Đài cứu quốc hợp nhất 12 chi phái” để lôi kéo tín đồ kháng chiến do họ lãnh đạo. Một giai thoại khá ly kỳ, được dân chúng Bạc-Liêu thường nhắc tới là việc "CS dùng thủ đoạn moi tiền cụ Cao một cách thô bỉ". Người miền Tây còn nhớ việc ấy rành rành:

“... Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, có một lá thư của “ác Hồ” gửi Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, trong đó nhắc việc tổ chức trao chiếc áo và thư của “ác” cho ông Cao-Triều-Phát. Đó là chiếc áo lục, do các em thiếu nhi Hà-Đông tặng khi bác còn ở Hà-Nội. Trong "tuần lễ vàng", Việt Minh lại đem chiếc áo ấy bán đấu giá, buộc ông Cao-Triều-Phát phải mua với giá 50 vạn đồng (500.000đ) một chiếc áo lụa nhầu nát như miếng giẻ rách...”

Tứ đó, cụ Cao lọt vào quỹ đạo của CS, sẵn sàng làm bù nhìn để họ mặc tình sai khiến đóng trò.

Riêng hệ phái Cao-Đài Tây-Ninh cũng bị mua chuộc, dụ dỗ không thành công. Chúng giở trò vu khống, rồi khủng bố, ám sát nhắm vào các ông Trần-Quang-Vinh, giáo chủ Phạm-Công-Tắc, Hồng-Sơn-Đông, Nguyễn-Văn-Nhã... nhưng thất bại. Ông Dương-Đình-Lôi đã kể lại rằng “trong 2 năm 1946-47, Việt Minh đưa cả một trung đoàn về ẩn náu tại vùng Long-Sơn, núi Nứa (Cần Giờ), có mục đích đánh phá đạo Cao-Đài. Vùng rừng Sác có một họ đạo Cao-đài tại Cần-Giờ. Trung đoàn 300 của Việt Minh vẫn thường xuyên đột nhập gọi là "tảo thanh", gặp tín đồ Cao-Đài cứ bắn giết, nhà cửa thì đốt sạch. Mỗi lần như vậy, dân có đạo Cao-Đài phải chạy vào đồn bót Tây để được che chở...”

“... Ở Củ-Chi, thời đó có các trung đoàn 306, 312 cũng tảo thanh Cao-Đài ở vùng Cổ Ống, Cầu Xe, Sốc Lào... rồi bắt theo một số đạo hữu đem về Bầu-Lách, đồng Trà-Dơ đập đầu chôn xuống các giếng trong những nhà chứa mủ cao su. Mối hận thù này không bao giờ rửa sạch trong lòng dân Cao-Đài. Cụ An-Khê kể lại "vào. Súng nổ tứ phía ngoài rào. Ba gã đại diện quân khu (VM) run rẩy, nói như muốn khóc:

- Chúng tôi không chủ trương như thế. Các anh xét lại cho!

Ông Trần-Quang-Vinh và Nguyễn-Văn-Thành trấn an họ:

- Các anh đừng sợ. Các anh đến đây, chúng tôi có bổn phận bảo vệ sinh mạng các anh. Khi ấy Tòa thánh được bố phòng kỹ lưỡng. Tại các ngả đường dẫn vào Tòa thánh, đều có công sự phòng thủ. Người chỉ huy lực lượng phòng thủ khi ấy là Trình-Minh-Thế. VM tấn công vào cửa chính, nhằm lúc đổi phiên gác (6 giờ chiều). Lính gác chưa kịp phản ứng gì. Tức thì một bộ phận khác núp trong mé rừng gần đó, xông ra con đường lớn, vừa chạy vừa bắn vào Tòa thánh. Lợi dụng khi ấy, xung quanh Tòa thánh còn nhiều rừng, VM điều động một số quân đến gần. Nhưng số quân ấy bị lực lượng phòng thủ bên ngoài của Nguyễn-Thành-Phương chận lại. Toán đặc công Việt Minh hạ sát toàn lính gác, ồ ạt xung phong qua cổng chính. Mặc dù bị thương, người chỉ huy bình tĩnh rút chốt lựu đạn quăng về phái chúng. Lựu đạn nổ tung, báo động cho các vọng gác tiếp viện và sẵn sàng chiến đấu. Mấy tên tiên phong của VM ngã gục. Bọn sau chậm lại. Nhờ thế, lính Cao-Đài phản công quyết liệt, đỉnh lui địch ra ngoài và đóng cổng sắt lại. Một trung đội VM bắn giết và đốt nhà dân cách đó chừng 100 m. Ông Trình-Minh-Thế nóng ruột vì đồng đạo, liền vượt qua rào với một người lính cầm súng trường, để tiếp cứu ấp ấy. Giống như xi-nê, vừa chạy băng đồng, Trình-Minh-Thế vừa thổi kèn thúc quân. Nghe tiếng kèn, VM tưởng có tiếp viện, vội vàng tháo lui, rút vào rừng.

Sáng hôm sau, nhiều phóng viên báo chí từ Saigon lên Tây-Ninh, đã chứng kiến cảnh tàn sát man rợ hãi hùng. Họ nhìn tận mắt đồng bào vô tội bị VM hạ sát: đàn ông, đàn bà,trẻ em đều bị chém, đâm và bắn trong những chòi lá cháy rụi. Có một bà mẹ ôm con nhỏ bị bắn chết. Đứa con còn bú, đẹp như thiên thần vô tội, ngậm vú mẹ ngủ say, nào biết gì..." (Thư của An-Khê gửi cho tác giả ngày 2.2.94).

Một nhân vật quan trọng của Cao-Đài Bến Tre là ông Lê-Kim-Tỵ. Ông Tỵ từng hoạt động chống Pháp, bị bắt giam ở Tà-Lài mấy năm. Lê-Kim-Tỵ hoạt động chung với các ông Dương-Văn-Giáo, bác sĩ Hồ-Vĩnh-Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn-Thị-Sương, luật sư Huỳnh-Văn-Phương, Lâm-Ngọc-Đường... Trong tháng 10.45, các ông bà ấy đều bị VM bắt và hạ sát hoặc trấn nước tại sông Lòng Sông (Mường Mán) ở Phan-Thiết.

VIỆT-MINH CỘNG SẢN VÀ "TÌNH ĐỒNG CHÍ":

Tôi có dịp đàm đạo với một vị cao niên, quen nhau từ hồi ở bên trại tỵ nạn, mới đây gặp lại trong một tiệc cưới. Ông nhận xét về thành phần đao búa tham gia kháng chiến năm 1945, kể lại những chuyện thật, xin giấu tên:

“Năm 1945, khi VM cướp chính quyền, kêu gọi toàn dân kháng chiến. Chúng tôi, dân giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật, nghĩ rằng đây là dịp đoái công chuộc tội. Hơn nữa, chúng tôi có người còn chút lương tri, muốn ngoi lên ánh sáng làm người lương thiện và làm người yêu nước trong thời loạn. Đó cũng là tâm trạng các tướng cướp khét tiếng như Bẩy Viễn, Mười Trí, Thomas Phước (tướng cướp hào hoa nổi tiếng một thời ở Saigon)... Đầu tiên, chúng tôi xin gia nhập tự vệ của Lâm Ủy Hành Chánh. Nhóm này chia làm hai phe: một phe lo bảo vệ an ninh cá nhân lâm ủy, còn một nhóm khác nhận mật lệnh thi hành các vụ giết người "Việt gian", "phản động"... Tôi thuộc nhóm thứ hai. Qua mấy tháng nhúng tay vào máu, chúng tôi, có người tỉnh ngộ và đổi thái độ. Một hôm, Trần-văn-Giầu họp với chúng tôi và nói:

- Cách mạng nào mà không đổ máu? Chúng ta hãy tiêu diệt bọn "phản động", "Việt gian"... với bất cứ giá nào.

Những lời kết tội đó chỉ chung chung, không nói rõ tội trạng một ai. Rồi cứ mỗi tối, chúng tôi lại nhận mật lệnh đi lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu nhiều nhân vật tên tuổi... mà Lâm ủy có sẵn trong "sổ bìa đen".

Một người trong nhóm chúng tôi thắc mắc:

- Tại sao độc lập rồi mà còn giết nhiều người tài đức, có uy tín?

Giàu trả lới:

- Cách mạng làm gì có đức? Ai làm cách mạng mà không giết người?

Từ trong tiềm thức chúng tôi, hận thù được khơi dậy, nhiều người say máu, muốn trả thù. Tuy nhiên, cũng có người chùn bước, không nỡ nhúng tay, nhưng cũng không dám cãi lệnh. Chúng tôi lao vào công việc chém giết và được khuyến khích như "nhiệm vụ cách mạng". Mấy tháng sau, tôi tỉnh ngộ. Kẻ còn chút lương tri như bọn tôi, tự động rã ngũ, về thành bảo vệ mạng sống một cách nhục nhã. Có người "đam lao thì phải theo lao". Lại có người tiếp tục "đánh đu với tinh, đùa giỡn với rắn độc”, chỉ trong một thời gian ngắn, họ “sinh nghề tử nghiệp” Đó là trường hợp của Ba Nhỏ, Hoàng-Thọ, Giang-Minh-Lý... và ngay cả trung tướng Nguyễn-Bình mà chúng tôi có viết trong bài "Cái chết của Nguyễn-Bình". Còn lại những kẻ mù quáng, tiếp tục vay máu đồng bào, cuối cùng cũng "bị hy sinh". Họ chết không phải vì lằn tên mũi đạn của kẻ thù mà chết vì dao găm, mã tấu của "đồng chí họ” như Tưởng-Dân-Vân, Dũ-Đức, Sư Muôn...

Chúng tôi lần lượt kể lại vài trường hợp thương tâm ấy. Khi Pháp chiếm lại các công sở trong thành phố Saigon đêm 22 rạng 23.9.45, Ủy Ban HC đã chạy thục mạng vô Chợ Đệm mấy hôm trước, bỏ lại bọn tự vệ, thanh niên xung phong như rắn mất đầu. Võ khí thô sơ làm sao đương đầu với quân Pháp khí giới tối tân? Từ chỗ ẩn náu an toàn, ủy ban ra lệnh tàn sát bất cứ người da trắng nào họ gặp. Ba Nhỏ, một đầu đảng cướp hoàn lương, chỉ huy một toán tự vệ thành, được lệnh ấy. Nửa đêm 25.9.45, Ba Nhỏ dẫn một đám lâu la, đột nhập cư xá Hérault (Hérault city) dành riêng cho gia đình Pháp kiều tại Tân-Định, Phú-Nhuận, tàn sát một số đàn bà trẻ con. Rồi họ bắt theo độ 50 người làm con tin, nhưng cũng giết nốt. Tổng số nạn nhân ngót nghét 200. Đó là "thành tích vẻ vang" đầu tiên của "Ủy Ban kháng chiến". Cuộc tàn sát gây phẫn nộ dư luận khắp nơi trong nước và cả bên Pháp. Nhiều quân lính Pháp nóng lòng vì thân nhân bị giết nên ra đường gặp ai đều bắn bừa bãi để trả thù. Dư luận phẫn nộ kết án Việt Minh là "bọn mọi rợ". Đồng minh mất cảm tình, quay sang ủng hộ quân Pháp. Mấy ngày kế tiếp, Ba Nhỏ, Tô-Ký, Kiều-Đắc-Thắng, Kiều-Tấn-Lập... được lệnh lùng sục bắt bớ, chém giết man rợ. Chỉ trong vòng một tháng, có hàng trăm nhân vật tên tuổi, người quốc gia yêu nước đều bị giết.

Cũng như lớp CS đàn anh, Ba Nhỏ xuất thân từ băng du côn Bà Chiểu, Cầu Bông, Thị Nghè, bao năm cầm đầu dân đao búa, Ba Nhỏ thạo nghề chém giết. Được Lâm Ủy Hành Chánh trọng dụng, hắn "làm việc cần mẫn". Nạn nhân của hắn không một ai sống sót. Vậy mà khi Pháp xua quân chiếm lại Thủ-Đức, Ba Nhỏ theo bộ đội kháng chiến rút ra trước tới Biên-Hòa. Biên-Hòa thất thủ, bộ đội Ba Nhỏ rút về Bà-Rịa, Long-Thành, Để xoa dịu dư luận bất mãn nhắm vào Việt Minh, Nguyễn-Bình được lệnh dàn dựng tội trạng để xử tử Ba Nhỏ "làm gương" vì tội "vô kỷ luật".

Giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, giặc Pháp thập thò trước cửa, tàu chiến xập xình trên sông Lòng Tảo hàng ngày, mà Việt Minh ngụy tạo tội trạng Ba Nhỏ "đã giết một người đàn bà mang 2 kg thịt tiếp tế vùng tạm chiếm" để tử hình đồng đội. Quý độc giả có thấy những sự vô lý ấy không? Ai tạo ra cảnh thù trong giặc ngoài để kháng chiến yếu đi, mất hết sinh lực?

Khi Ba Nhỏ bị kêu án, Ba Dương và đồng đội giang hồ cũ, đều ký tên xin ân xá hoặc giảm án, nhưng Nguyễn-Bình được lệnh phải hành quyết tức khắc. Ba Dương là lãnh tụ Bình-Xuyên trước Bẩy Viễn. Quá uất ức vì biết mình bị làm con vật hy sinh, Ba Nhỏ liền giật cây súng nhỏ của đội hành quyết định tự sát, cho rõ khí phách một tay anh chị, nhưng toán hành quyết giật lại và bắn Ba Nhỏ chết liền tại chỗ.

Kiều-Đắc-Thắng là một tên du thủ du thực, từ miền Trung lưu lạc vào Nam trước năm 1945. Hắn làm đủ nghề, từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Kiều-Đắc-Thắng ăn cướp bị bắt giam vào khám ở Vũng Tàu. Ở đây Thắng cùng một bạn đồng tù tên Năm Bé móc nối với một tên coi ngục để vượt ngục. Lúc đó đúng vào cơ hội Việt Minh cướp chính quyền, Thắng xin làm "tự vệ". Từ tiểu đội trưởng Quốc Gia Tự Vệ Cuộc, Kiều-Đắc-Thắng leo lên chức quyền giám đốc công an các tỉnh miền Đông chỉ hơn 1 năm, nhờ khả năng bắt cóc và ám sát. Những ai bị Lâm Ủy Hành Chánh kết tội “Việt gian, phản động”, Thắng hạ sát không gớm tay. Danh sách nạn nhân của hắn dài xọc. Ông Phan-Văn-Hùm bị Kiều-Đắc-Thắng ám sát tại quê nhà Búng (Lái-Thiêu) tháng 10.45. Về sau, thấy Thắng có quyền hành quá lớn, muốn qua mặt Dương-Bạch-Mai, Nguyễn-Văn-Trấn, nên Bình "gởi Thắng ra gặp ác Hồ". Có nguồn tin nói rằng Hồ-Chí-Minh cho hắn gặp, phủ dụ mấy câu theo công thức, rồi đổi tên hắn là Vũ-Tùy-Nhân để khỏi mang tiếng. Tuy nhiên, trên đường về Nam, Kiều-Đắc-Thắng chết một cách mờ ám. Một nhân vật độc đáo khác cũng xuất thân từ giới giang hồ, đánh giặc rất gan lỳ, đó là Hoàng-Thọ. Hoàng-Thọ là người Hải-Phòng, cũng do lò đao búa đào tạo, lưu lạc vô Nam từ năm 1939. Thọ có thân hình cao lớn, khá điển trai, râu quai nón. Khá hơn những tên trước, Thọ từng làm thợ máy quấn dây điện. Khi Nhật đảo chánh Pháp, Thọ theo Nhật làm lính Hải quân, nên gọi là "Thọ Mạch lô". Việt Minh cướp chính quyền mở ra cho Thọ một con đường mênh mông vì hợp khả-năng. Khi Nguyễn-Bình vào Nam, nghe tiếng Thọ, lại người cùng quê, nên Bình chọn bộ đội Thọ để bảo vệ cho mình. Một năm sau, bộ đội Hoàng-Thọ bổ sung thêm nhiều chiến sĩ, đánh nhiều trận tiếng tăm lừng lẫy. Địa bàn hoạt động của Thọ là vùng Gò Dầu, Trảng Bàng, Tây-Ninh. Tuân lệnh Việt Minh, Thọ từng gây nhiều tội ác đối với Cao-Đài. Những người quen biết với Hoàng-Thọ có kể lại rằng, mỗi lần phục kích, Thọ chọn hướng gần mé sông. Binh sĩ chỉ có tiến chứ không thể lùi. Khi Nguyễn-Bình chính quy hóa quân đội kháng chiến, bộ đội Hoàng-Thọ trở thánh tiểu đoàn 303. Đó là đơn vị chủ lực của quân khu 7. Bình gài một tên CS (Kính) vào làm chính trị viên thì tiểu đoàn 303 bắt đầu chia rẽ nội bộ, suy yếu. Có lần, Thọ bắt gặp một số bộ đội sinh hoạt riêng rẽ, bí mật, khi Thọ điểm danh, thì vắng mặt. Lúc đó, tên chính trị viên Kính cố thuyết phục, rún ép, dụ dỗ Thọ vô đảng CS. Bất mãn Thọ bỏ đi, rồi cạo đầu để phản đối. Lúc trở về, Thọ thấy vật dụng cá nhân đều bị lục soát, anh ta bực tức không dằn được:

- ĐM. Hoàng-Thọ đi kháng chiến vì dân vì nước, đâu có ngờ ngày nay có đảng này đảng nọ. Đem mà bắn cha cái đảng CS cho rồi!

Sau đó, Thọ bị kiểm điểm, phê bình và bản án tử hình bí mật đã định sẵn. Tháng sau, Nguyễn-Bình "giới thiệu" Hoàng-Thọ ra Bắc gặp ác Hồ. Biết rõ âm mưu của Việt Minh định giết mình, Hoàng-Thọ đi vài chặng, rồi đổi ý quay lại, về Mỹ-An mở quán lá bên bờ kinh Nguyễn-Văn-Tiếp trong Đồng-Tháp-Mười làm sinh kế. Hoàng-Thọ có tiền, tiếp đãi bạn cũ có dịp công tác đi ngang qua đó rất hậu, chẳng khác Mạnh-Thường-Quân.

Đầu năm 1950, văn phòng trung tướng Nguyễn-Bình dời về Cá Lóc, quận Long-Mỹ. Bị Tây phát giác, họ chuyển đến Ông Đèo, ấp Cầu Đúc, quận Gò-Quao, tỉnh Rạch-Giá. Trong một đêm tối trời, Thọ bị bắt, đem đi hành quyết tại một địa điểm gần Cạnh Đền. Bọn sát nhân đập đầu Hoàng-Thọ như đập đầu cá lóc. Trước khi chết, Thọ rống như bò và chửi rủa VM thậm tệ.

Cùng thời gian đó, ông Giang-Minh-Lý bị giết rất dã man. Lý con nhà đại điền chủ bỏ theo kháng chiến, lập nhiều công trạng, làm chính trị viên một đại đội đóng ở Cần-Thơ. Lý bị rún ép đe dọa phải vào đảng CS, và phục tòng mệnh lệnh của họ. Lý từ chối nên bị nghi ngờ, theo dõi. Lý bất mãn ra mặt. Có lần Lý tụt quần, chỉ vào con c. và điểm mặt Hoàng-Dư-Khương, chính ủy khu 9, nói:

- Tao sợ mày cái con c. tao nè!

Mấy hôm sau, Lý bị bắt đem hành quyết tại Cạnh Đền. Chúng căng hai tay ông ra, rồi dùng dao găm đâm túi bụi vào mắt, vào tim...

Còn dưới đây là mọt vụ hành quyết tập thể các "đồng chí" của mình mà ông Dương-Đình-Lôi có thấy hoặc nghe kể lại trực tiếp: "... tất cả độ 20 người thuộc bộ chỉ huy, tham mưu và hậu cần, chính trị của tiểu đoàn 300 Dương-Văn-Dương, có cả Trương-Văn-Phụng và anh Tám Son... đều bị trói thúc ké, đem xuống bờ biển Đông-Hòa, rồi chặt đầu hết. Trong số nạn nhân có Bẩy Nghiệp, nguyên chi đội trưởng chi đội 21 từ Bình-Xuyên qua, phụ trách đảng vụ của trung đoàn và chị Hai Sương được “hưởng ân huệ” khi xử tử. Đó là dùng súng bắn vào đầu thay vì chặt đầu. Về cái chết của “chị Hai Sương”, ông Dương-Đình-Lôi không chứng kiến, nhưng được nghe chính người hành quyết kể lại: “Tôi nghe anh Năm Triệu, đại đội trưởng cuộc hành quyết đó, về văn phòng trung ương báo cáo lại. Năm Triệu gốc lính Nhật, to lớn con, mang gươn dài chấm đất. Năm Triệu kể:

- Tao thấy con Sương rụng rời tay chân. Tới phiên nó, nó đi đái. Tới lúc nó đứng dậy sau bụi cây mua. Nó lột trần truồng dưới ánh trăng lờ mờ, làm tao trân trối nhìn nó chậm rãi đi trước miệng hố. Tao biết tội nó chỉ làm liên lạc đưa thơ về Saigon mà sao họ cũng giết đành đoạn? Khi tới gần tao, nó nói:

- Anh Năm! Em muốn hiến cho anh rồi em chết.

Tao bàng hoàng định tha con nhỏ. Nhưng thằng mắc dịch Bẩy Mầu đi tới (Bẩy Mầu cũng là đại đội trưởng, chồng chị Dưỡng, rể của ba Dương, bị Nguyễn-Bình sai Từ-Văn-Ri ám sát ở Bến Tre). Thằng Mầu nó bảo:

- Bộ hổng mạnh dạn xuống gươm hả? Để tao tặng cho em viên đạn.

Thế là kết liễu một đời hồng nhan bạc phận. Chị Sương là một người đẹp nhất của trung đoàn, con nhà giầu, học sinh ở Saigon bỏ theo kháng chiến... để rước lấy cái chết thảm.

Những người bị chặt đầu, chôn, hoặc thả trôi sông Lòng Tảo hôm ấy tôi được biết gồm có:

- Hai Điều, trưởng ban quản trị, bị bắt ỡ An-Thành.

- Tám Son, trưởng văn phòng trung đoàn.

- Bẩy Nghiệp, tiểu đoàn trưởng, trưởng ban dảng vụ.

- Năm Son, trưởng ban quân nhu.

- Bác sĩ Năm Ngà, trưởng bệnh xá trung đoàn.

- Chị Sương, một thiếu nữ xinh đẹp, thuộc ban quân báo trung đoàn.

- Chín Lá, trưởng đài vô tuyến điện...

(Trích thư riêng của Dương-Đình-Lôi gởi cho tác giả).

Chắc độc giả miền Nam còn nhớ vụ Sư Muôn?

Sư Muôn là một nhà tu mang nhiều tai tiếng xấu, báo chí phanh phui những hành động lem nhem với phụ nữ. Lý lịch sư Muôn cũng ít người biết, nhưng nhắc tới sư Muôn, những người lớn tuổi ở miền Tây không ai không nghe tiếng. Tôi may mắn được cụ Xuân-Tước và một vị cao niên khác chỉ dẫn nhiều chi tiết. Hồi những năm từ 1936 đến 1939, sư Muôn có chùa ở quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Sát bên chùa có một cái am nhỏ. Những phụ nữ, những bà hiếm muộn, muốn cầu tự, thường tìm đến sư Muôn để “làm phép" và nhiều người "mãn nguyện". Nhờ vậy, tiếng của ông đồn rất xa. Có người biết chuyện kể lại rằng, sư Muôn cho đào một đường hầm từ phòng ngủ của sư trong chùa, ăn thông với cái am ấy. Ban đêm sư Muôn mò xuống "trị bệnh hiếm muộn" vì những phụ nữ đến cầu tự phải "làm công quả trong chùa", và tối đến ngủ tại cái am đó. Sư Muôn tên thật là Nguyễn-Kim-Muôn, người ở Gia-Định, trước làm công chức sở hỏa xa. Lúc đó, ông có mướn căn phố tại đường Hamelin (Hồ-Văn-Ngà sau này). Ông xuất tiền và lạc quyên thêm để cất ngôi chùa "Long-Vân-Tự" tại đường Hàng Xanh, Thị-Nghè, bây giờ Long-Vân-Tự vẫn còn. Trong khi tu, sư Muôn có nhiều chuyện bất chánh với phụ nữ, dư luận căm phẫn. Ông bỏ chùa xuống Giồng Riềng, Rạch Giá, tiếp tục lập chùa, lừa gạt những người đàn bà hiếm muộn, nhẹ dạ. Báo chí Saigon phỉ báng ông thậm tệ. Họ gọi chùa của ông là "động tu”, “tu đạo”... Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, sư Muôn di chuyển ra Phú-Quốc. Ông cũng lập chùa ở gần thị trấn Dương-Đông. Đầu năm 1946, Pháp chiếm trọn các tỉnh miền Nam. Hết đất dung thân, bọn CS đầu não ở khu 9 gồm tỉnh ủy Nghiêm-Cai-Cơ, bí thư tỉnh ủy Dương-Quang-Đông (Năm Đông), Phan-Trọng-Tuệ, Lâm-Ngọc-Minh... phải bôn đào ra Phú-Quốc. Sẵn thấy chùa sư Muôn có cơm gạo do bá tánh dâng cúng, nên bọn này ghé ăn dầm nằm dề tại chùa sư Muôn để ăn chực cơm của nhà chùa. Để lợi dụng sư Muôn, bọn CS này bèn phong cho ông làm "Ủy viên xã hội" bằng miệng. Năm 1948, CS bao vây chùa, bắt sư Muôn đem giết ven mé rừng, giữa Dương-Đông và Hàm-Ninh.

TẠI SAO CÓ PHONG-TRÀO "THỔ DẬY" Ở MIỀN NAM VÀO NĂM 1945?

Miền Nam là đất cũ của Chân-Lạp, tức lãnh thổ Miên. Dân Nam-Kỳ gọi người Miên là "Thổ". "Thổ dậy" là phong trào những người Miên trả thù (cáp Duồng: giết người Việt). Trong thời Pháp thuộc, người Miên, người Việt sống đề huề thuận hòa với nhau trong gần một thế kỷ. Bình thường, bản tính người Miên rất hiền lành. Họ ăn uống cực khổ (thường ăn mắm), làm việc nặng nhọc như chèo ghe, vác lúa... Người Miên theo Phật giáo tiểu thừa. Tuy nhiên, bị khích động, họ thịnh nộ, giết người dã man.

Sau khi cướp chính quyền ở Cà-Mau (lúc đó chỉ là một quận), Ủy ban hành chánh quận này đã giết hàng loạt thường dân và các nhà sư Miên rất dã man. Thừa gió bẻ măng, khi Pháp ruồng bố tới, Thổ nhất tề theo chân Pháp để “bắn giết” trả thù người Việt, gặp ai nấy giết. Võ khí của họ là chiếc phảng phát cỏ, kéo ngay, sử dụng như mã tấu. Những ai từng sống ở Hậu-Giang vào những năm ấy, chắc không khỏi hãi hùng vì những "tin Thổ dậy". Thảm cảnh đó, do thiểu số Việt Minh gây ra, nhưng tất cả mọi người dân vô tội đều trở thành nạn nhân. Chứng kiến cuộc hành quyết dã man nhất trong lịch sử, ông Văn-Nguyên-Dưỡng đã thuật lại các vụ giết các thường dân và sư sãi Miên ở Cà-Mau năm 1945 trong thời kỳ "Tết chạy giặc sau mùa thu nhiễu nhương" như sau:

"... rồi không lâu, sau ngày "Mừng độc lập”, cuộc tao loạn bắt đầu. Ngoài danh từ mới “Việt Minh” được biết vào ngày đó, tôi còn biết thêm một danh từ mới là "Việt gian". Dân chúng, ai ai cũng sợ danh từ này. Ai cũng có thể bị kết tội là Việt gian" với những chứng cớ mơ hồ, hay những việc làm trong dĩ vãng, rồi đem ra bắn hoặc cho "mò tôm" Người đầu tiên bị xử bắn dưới dạ Cầu quây bên kia sông là cậu Bẩy Mầu "ông Cò Cà-Mau". Mắt tôi mở rộng khi biết thêm khi biết rằng "có độc lập rồi" mà Việt Minh vẫn đem người ra xử bắn hàng loạt. Nhất là các sư sãi người Miên bị lôi từ trong chùa Miên ra, hoặc bị bắt ở đâu đó trong quận.

Cách xử tử quá dã man: Họ trói hai tay, bịt mắt bắn hoặc chặt đầu. Cho rằng các sư Miên có "cà tha" (bùa), có ngải, súng đạn không lũng, chém không đứt, Việt Minh nghĩ ra cách xử tử bằng tầm vông vạt nhọn, đâm vào hậu môn rồi thả trôi sông. Xử tập thể trước mặt công chúng, trông thật khủng khiếp, dã man.

Cầu tàu dưới bến, nơi hợp lưu của sông Cà-Mau và kinh xáng Đội Cường thường là nơi diễn ra cuộc hành quyết đó. Mỗi lần như vậy, dân chúng kéo nhau đi coi rất đông. Hàng loạt sư sãi Miên bị cột chặt vào 3 đòn tre cứng, dài, mỗi người cách nhau một bước, thành một hàng ngang, xoay mặt ra phía sông. Quần bị lột bỏ. Đòn tre thứ nhất đặt trên cổ, sau ót hàng người bị xử tử. Đòn tre thứ hai đặt ngang thắt lưng. Hai tay mỗi nạn nhân bị trói thúc ké, bẻ quặt ra sau lưng, buộc chặt vào đòn. Đòn tre thứ ba, đặt ngang mắt cá, phía trước hàng chân dạng ra của họ. Một đoạn dây buộc vào cổ mỗi người dính vào đòn tre thưa nhất, kéo thẳng xuống buộc hai chân họ vào đòn tre thứ ba. Sáu du kích khỏe mạnh giữ cứng 6 đầu của 3 đòn tre đó, kèm cho hàng người tù tội đứng ở thế cúi người xuống, chổng mông hướng vào mép trong cầu tàu.

Ở mép trong cầu tàu, đã có sẵn một đội du kích bằng với số tử tội, đứng sắp hàng ngang, tay giữ tầm vông vạt nhọn đầu, dựng ngọn trên trời, chờ đợi.

Đến giờ xử, có lệnh hành quyết do một chỉ huy phất lên. Những tên du kích này hạ tầm vông ngang thắt lưng, chĩa mũi nhọn ra trước mặt, cùng một lượt chạy nhanh ra mép cầu, dùng hết sức mạnh đâm thẳng mũi nhọn vào hậu môn của mỗi tử tội, đẩy cả hàng tù tội này xuống sông và buông luôn cả cây tầm vông..."

Cách xử như vậy là xong. Bọn du kích ra về mang đầy máu me của những người bị xử phọt ra. Chúng bỏ cho những người đi coi mặc tình nhìn ra cầu tàu nhìn xuống nước, xem những người này sống chết ra sao. Dĩ nhiên không một ai sống sót. Nếu họ không chết vì vết đâm thấu ruột gan, thì cũng chết vì ngộp nước không lâu sau đó. Họ bị kết chung vào nhau bởi những sợi dây và những đòn tre ác nghiệt còn tài nào mà thoát được. Nước đã dìm họ xuống đáy sông, sẽ cuốn họ đi. Một vài ngày sau, thây họ nổi chùm lên mặt sông ở đâu đó. Những cán tầm vông sẽ chổng lên trời hoặc ngả nghiêng xiên xẹo, rồi những đàn diều quạ, kên kên lượn vòng khu vực đó. Vài con đậu trên cán tầm vông. Năm bẩy con cúi xuống rỉa thịt xác chết. Cả một vùng nồng nặc hôi thối, gieo sự kinh sợ tột đỉnh cho mọi người.

Người dân lành trong quận đã bắt đầu câm nín. Cuộc sống của họ bị đe dọa và bị ám sát bởi những cuộc hành quyết man rợ..."./-

GS Hứa Hoành

1 Comments:

Post a Comment

<< Home